Image 1 — Mặc kệ lũ ong ve, vợ Nguyễn Sĩ Cương vẫn xem đá banh rất vui vẻ
Image 2 — Mặc kệ lũ ong ve, vợ Nguyễn Sĩ Cương vẫn xem đá banh rất vui vẻ
▲ 27 r/BinhLuanTucCau+1 crossposts

Mặc kệ lũ ong ve, vợ Nguyễn Sĩ Cương vẫn xem đá banh rất vui vẻ

VTV6 lúc 21 giờ 22 phút trận banh giữa VN và Mã Lai nhé

Tao đoán bà bộ trưởng bộ văn hóa này đang nghĩ: "lũ phản động cay é é é é"

u/Sea-Bunch-vn — 1 day ago

Bác Tô làm trưởng ban sửa điều lệ đảng, viết chiếu chỉ lên ngôi trọn đời

ÔNG TÔ LÂM LÀM TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐẢNG

Theo BBC

Bộ Chính trị vừa thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng, chuẩn bị dự thảo trình Đại hội 15 xem xét.

Theo Quyết định số 207 do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký, ông Tô Lâm giữ cương vị trưởng ban chỉ đạo.

Hai phó trưởng ban gồm Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú và Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc.

Ban Chỉ đạo có 44 thành viên, trong đó có 17 ủy viên Bộ Chính trị, còn lại phần lớn là ủy viên Trung ương Đảng.

Hai ủy viên Bộ Chính trị không tham gia ban chỉ đạo là Thủ tướng Lê Minh Hưng và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

Bộ phận thường trực của Ban Chỉ đạo gồm 13 người.

Theo quyết định, Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng, nghiên cứu các nội dung cần sửa đổi, bổ sung và xây dựng dự thảo Điều lệ Đảng để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 trước khi trình Đại hội 15 xem xét, quyết định.

Các thành viên Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và thực hiện nhiệm vụ theo phân công của trưởng ban chỉ đạo. Ban Chỉ đạo cũng sẽ thành lập một tổ biên tập để hỗ trợ công việc.

Theo quyết định, Ban Chỉ đạo được sử dụng con dấu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Tổ chức Trung ương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, và sẽ tự giải thể sau khi hoàn thành công việc.

Điều lệ Đảng hiện hành được Đại hội 11 thông qua năm 2011.

u/Sea-Bunch-vn — 20 days ago

Từ 1/8, luật sư bị cấm ghi âm, ghi hình ở tòa án

Thông tư 12/2026 là quy định về việc sử dụng các thiết bị điện tử.

Cụ thể, khoản 3, điều 4 của thông tư này quy định không được mang thiết bị truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số. Ví dụ: điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay, đồng hồ thông minh, thiết bị khác có tính năng ghỉ âm, ghi hình, thu phát tín hiệu điện tử (sau đây gọi là thiết bị điện tử) vào phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp cho phép

https://tuoitre.vn/tu-1-8-khong-duoc-mang-laptop-dong-ho-thong-minh-vao-phien-toa-neu-khong-duoc-cho-phep-10026071810215616.htm

Chống tự diễn biến tự chuyển hóa hehe

u/Sea-Bunch-vn — 1 month ago

Tóm lại là gian lận vẫn không bị sao he he

Mà nói chứ, toàn con cháu đồng chí với nhau cả, toàn đăng ký vào các trường như Công An, Quân Đội thì ai lại đi bắn vào nhau bao giờ?

Ngay cả bộ trưởng bộ giáo dục hiện tại cùng quê Hưng Yên với bác Tô Lâm nữa, ai dám đụng vào trung thần của bác Tô đâu?

u/Sea-Bunch-vn — 1 month ago

Tại sao độc tài thường thích khơi gợi, tuyên truyền tội ác của chế độ cũ hoặc của nước khác?

Minh họa phim Trung Quốc kháng Nhật

WARNING: bài rất dài

Nhiều chế độ độc tài hoặc thể chế tập quyền hiện nay duy trì thói quen tái hiện liên tục tội ác của kẻ thù trong quá khứ, dù cuộc chiến hoặc biến cố đó đã lùi xa và không còn liên quan trực tiếp đến đời sống hiện tại. Các hình thức tái hiện này thường mang tính mô phỏng cụ thể như dựng lại cảnh tra tấn trong nhà tù, cảnh tù binh bị hành hạ, hoặc các vụ thảm sát, mà tính xác thực của từng chi tiết không phải lúc nào cũng được kiểm chứng đầy đủ. Giới nghiên cứu khoa học chính trị và tâm lý học xã hội đã phân tích hiện tượng này như một chiến lược có chủ đích, phục vụ nhiều mục đích chính trị khác nhau chứ không đơn thuần là hoạt động giáo dục lịch sử.

1.NĂM MỤC ĐÍCH CỐT LÕI CỦA VIỆC KHƠI GỢI TỘI ÁC KẺ THÙ

Một trong những mục đích cốt lõi là xây dựng cái gọi là chủ nghĩa dân tộc phòng thủ. Chiến lược này tạo ra một thế giới quan nhị nguyên (chỉ có đúng hoặc sai, bỏ qua ngữ cảnh) trong đó chúng ta, tức những người yêu nước và là nạn nhân của lịch sử, đối đầu với họ, tức các thế lực thù địch, ngoại bang, hoặc phe đối lập. Khi người dân tin rằng mình đang sống trong một môi trường bị đe dọa thường trực, họ có xu hướng gạt bỏ các bất đồng nội bộ để đoàn kết xung quanh chính quyền nhằm tự vệ. Kết quả là sự tồn tại của chế độ cầm quyền dần được đồng nhất hóa với sự tồn tại của chính quốc gia hoặc dân tộc. Về lâu dài, cách làm này xây dựng một căn tính quốc gia đặt nền tảng trên sự hiếu chiến, đối đầu với kẻ thù chứ không phải trên sự phát triển thịnh vượng nội tại, khiến chế độ duy trì được sự ủng hộ thông qua nỗi sợ và định hướng dư luận thay vì thông qua thành tựu quản trị thực chất.

Mục đích thứ hai là đánh lạc hướng, một kỹ thuật kinh điển để quản lý sự bất mãn trong nước. Khi chế độ đối mặt với các vấn đề nội tại như suy thoái kinh tế, tham nhũng, hoặc bất công xã hội, việc khơi dậy ký ức về tội ác của kẻ thù giúp lái sự giận dữ của công chúng ra khỏi bộ máy cầm quyền. Bằng cách tập trung sự chú ý vào các sự kiện quá khứ, chế độ tạo ra một kẻ thù hữu hình để người dân trút bỏ sự phẫn uất, thay vì chất vấn hiệu quả quản lý hiện tại của chính quyền.

Mục đích thứ ba là hợp thức hóa quyền lực bằng sự sợ hãi. Việc mô phỏng lại các cảnh tra tấn hay thảm sát không đơn thuần là kể chuyện lịch sử mà còn mang một thông điệp ẩn.

"Nếu không có chúng tôi, đây là những gì sẽ xảy ra với các bạn."

Thông điệp này tạo ra tâm lý sợ hãi sự bất ổn hoặc sự thay đổi. Thông qua việc nhấn mạnh viễn cảnh thảm khốc nếu kẻ thù thắng thế hoặc nếu chế độ sụp đổ, chính quyền thuyết phục người dân rằng sự ổn định dưới sự lãnh đạo hiện tại quan trọng hơn quyền tự do cá nhân hoặc dân chủ.

Mục đích thứ tư là độc quyền diễn ngôn lịch sử (kẻ thắng viết nên lịch sử). Trong các chế độ độc tài, lịch sử không được xem là một khoa học khách quan mà là một công cụ chính trị. Bằng cách kiểm soát độc quyền việc mô tả quá khứ, chế độ tự đặt ra định nghĩa thế nào là đúng và sai, ai là anh hùng và ai là phản diện. Việc dựng lên các mô phỏng tội ác giúp củng cố niềm tin rằng chỉ có chế độ mới nắm giữ sự thật lịch sử, từ đó vô hiệu hóa mọi tiếng nói phản biện hoặc các cách giải thích lịch sử khác biệt.

Mục đích thứ năm là tạo ra 1 kẻ thù chung như một chất kết dính xã hội. Dưới góc độ tâm lý học xã hội, sự căm thù chung đối với một đối tượng thứ ba được xem là một trong những chất kết dính xã hội mạnh nhất. Việc nhắc đi nhắc lại các sự kiện đau thương, bất kể tính xác thực của từng chi tiết cụ thể, giúp duy trì cảm xúc mãnh liệt trong cộng đồng. Khi người dân được nuôi dưỡng bằng sự căm thù đối với kẻ thù, họ sẽ ít có khả năng suy nghĩ lý tính về các chính sách của chính quyền, vì cảm xúc đã lấn át tư duy phản biện.

  1. CHÍNH DANH CÁCH MẠNG VÀ SỰ LỆ THUỘC VÀO QUÁ KHỨ

Giới nghiên cứu về ký ức tập thể chỉ ra rằng một sự kiện dù đã cũ nhưng nếu được tái dựng liên tục sẽ trở thành một phần của tâm lý của cộng đồng. Nếu người dân quên đi sự căm thù, chế độ sẽ mất đi một công cụ huy động quần chúng quan trọng. Do đó việc duy trì cái gọi là vết thương lịch sử là một cách để ngăn chặn sự hòa giải thực sự, buộc xã hội phải luôn ở trong trạng thái cảnh giác với kẻ thù cũ. Nhà tâm thần học Vamik Volkan gọi hiện tượng này là tổn thương được chọn, tức hình ảnh tinh thần chung mà một nhóm lưu giữ về một tổn thương lớn mà tổ tiên họ từng chịu dưới tay kẻ thù, và ông chỉ ra rằng ký ức này thường bị tái kích hoạt mỗi khi căn tính hoặc sự tồn vong của nhóm bị cảm thấy đe dọa.

Khi một thể chế không giành quyền lực thông qua bầu cử tự do, họ cần một cơ sở khác để giải thích tại sao mình xứng đáng lãnh đạo, và chiến thắng trong chiến tranh hoặc thành công của một cuộc cách mạng thường được dùng làm một trong các cơ sở đó, khoa học chính trị gọi đây là chính danh cách mạng, một trong nhiều con đường chính danh có thể có bên cạnh ý thức hệ, hiệu quả quản trị, hay sùng bái cá nhân lãnh tụ.

Ở những thể chế lấy chính danh cách mạng làm trụ cột chính, vì di sản chiến thắng là nguồn gốc chủ yếu của sự chính danh đó, nếu người dân quên đi chiến tranh hoặc không còn thấy nó quan trọng thì nguồn gốc quyền lực của thể chế sẽ bị lung lay. Do đó chế độ buộc phải làm tươi mới ký ức đó mỗi ngày, vì nếu ngừng kể về tội ác của kẻ thù, họ sẽ buộc phải chứng minh năng lực quản trị hiện tại về kinh tế, nhân quyền, và minh bạch, điều mà đôi khi họ không thể làm tốt bằng việc sử dụng lá bài quá khứ.

Đây là một kỹ thuật thao túng tâm lý xã hội nhằm triệt tiêu tranh luận. Khi một người đưa ra ý kiến phản biện về chính sách hiện tại, chẳng hạn về kinh tế, môi trường, hay quyền tự do, chế độ thường không đối thoại trực diện bằng logic mà dùng bóng ma của kẻ thù cũ để đè bẹp đối thủ. Bằng cách gắn kết đối thủ với hình ảnh những kẻ đã bị tuyên truyền là tàn ác trong quá khứ, chế độ khiến tiếng nói phản biện trở thành một dạng phản bội dân tộc hoặc tay sai, tước đi quyền tranh luận bình đẳng của người phản biện.

Dư luận khi đó không còn xét đến nội dung phản biện là đúng hay sai mà chỉ tập trung vào việc người này thuộc phe nào.

Mục tiêu tối thượng của việc chụp mũ này là gây sợ hãi, khi sự phản biện bị gắn mác thân kẻ thù, người dân sẽ tự kiểm duyệt bản thân vì sợ bị gán tội danh phản quốc hoặc bị xã hội cô lập.

Nghiên cứu về chuyển đổi thể chế cho thấy việc duy trì trạng thái chiến tranh tâm lý kéo dài gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho một quốc gia. Thay vì hướng tới tương lai với các mục tiêu như công nghệ, giáo dục, hay thịnh vượng, toàn bộ năng lượng xã hội bị kẹt lại trong những tranh cãi của quá khứ.

Khi xã hội quen với việc dùng cảm xúc căm thù để đánh giá mọi việc, kỹ năng tranh luận dựa trên dữ liệu và lý lẽ sẽ dần thoái hóa, tạo ra một thế hệ thụ động, dễ bị dẫn dắt và mất đi khả năng phản tư.

Việc liên tục khơi gợi quá khứ cũng khiến các mâu thuẫn vốn đáng lẽ nên được khép lại để hòa giải dân tộc lại bị khoét sâu thêm, gây khó khăn cho việc xây dựng một xã hội đa nguyên và dung nạp.

3.TÍN HIỆU VỀ SỰ THIẾU TỰ TIN CỦA CHẾ ĐỘ

Trong khoa học chính trị, nếu một chế độ không thể chứng minh sự chính danh bằng bầu cử, họ thường cố gắng chứng minh bằng hiệu suất quản trị, chẳng hạn tăng trưởng kinh tế mạnh hoặc đời sống người dân được nâng cao rõ rệt. Khi hiệu suất này suy giảm, chẳng hạn kinh tế gặp khó khăn, tham nhũng gia tăng, hoặc khoảng cách giàu nghèo lớn, người dân sẽ bắt đầu đặt câu hỏi về năng lực quản lý của chính quyền. Lúc này chế độ buộc phải viện đến quá khứ vì nhận thấy hiện tại không còn đủ sức thuyết phục, điều này được xem là biểu hiện của sự thiếu tự tin vào khả năng giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước.

Sự tự tin của một chế độ cũng thường được đo bằng khả năng đối mặt với các ý kiến trái chiều mà không cần đến sự đàn áp hay chụp mũ. Khi một chế độ cảm thấy cần phải dùng đến bóng ma quá khứ để dập tắt mọi tiếng nói phản biện, điều đó cho thấy họ không tự tin rằng các luận điểm của mình có thể thắng thế trong một cuộc tranh luận công bằng. Họ lo ngại rằng nếu mở ra không gian cho tư duy phản biện, người dân sẽ nhận ra rằng những lý lẽ bảo vệ quyền lực hiện tại là không đủ thuyết phục.

Các chế độ dựa trên chính danh chiến tranh hoặc cách mạng còn đối mặt với một thách thức lớn là yếu tố thời gian. Khi thế hệ từng trực tiếp trải qua chiến tranh dần qua đi, và thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình với những nhu cầu khác biệt như quyền tự do biểu đạt hay nhu cầu kết nối toàn cầu, thì nguồn gốc quyền lực dựa trên quá khứ sẽ bị mai một dần. Việc liên tục tuyên truyền trong bối cảnh này không hẳn là dấu hiệu của sự mạnh mẽ mà thường là nỗ lực nhằm níu kéo sự cộng hưởng tâm lý với những thế hệ không còn cảm nhận được không khí của quá khứ.

Khi một thể chế đã chọn con đường quản trị dựa trên sự phân cực giữa tốt và xấu, giữa ta và địch, họ tự giam mình vào một vòng luẩn quẩn khó thoát ra. Họ không thể dừng tuyên truyền vì nếu dừng lại người dân sẽ bắt đầu nhìn thẳng vào thực tại. Họ cũng không thể hòa giải thực sự với quá khứ vì cần sự chia rẽ đó để giữ thế cân bằng quyền lực hiện tại.

4.PHẢN CHIẾU TÂM LÝ VÀ TỐ CÁO NGƯỢC

Một thủ thuật tinh vi khác trong chiến tranh tâm lý là phản chiếu tâm lý, tức khi một thể chế làm điều gì đó sai trái nhưng không muốn thừa nhận, họ gán chính hành vi đó cho đối thủ của mình. Bằng cách cáo buộc người khác kích động hận thù, họ ngay lập tức chiếm được thế thượng phong về đạo đức trong mắt công chúng chưa hiểu rõ bản chất vấn đề. Người đang vạch trần sự thật bỗng chốc bị nhìn nhận như kẻ phá hoại hay kẻ gây rối, trong khi kẻ thực sự tạo ra sự thù hận lại tự khoác lên mình hình ảnh người bảo vệ hòa bình và ổn định. Mục tiêu của kỹ thuật này là làm lu mờ ranh giới giữa hành vi kích động hận thù và ý định vạch trần sự dối trá, khiến dư luận quay sang nghi ngờ người tố cáo thay vì nghi ngờ kẻ đang thao túng.

Đây cũng là một dạng thao túng khiến nạn nhân hoài nghi chính thực tế mà họ đang chứng kiến. Khi một thể chế bị chỉ ra rằng họ đang dùng lòng thù hận để trục lợi chính trị, việc thừa nhận điều đó đồng nghĩa với tự sát về mặt chính danh, nên thay vào đó họ phản công bằng cách áp đặt nhãn kích động hận thù dân tộc lên chính người tố cáo. Những người có tư duy phản biện vì vậy bị đặt vào thế khó, vì nếu tiếp tục vạch trần họ sẽ bị chính cáo buộc mà họ đang cố gắng phơi bày quay lại tấn công mình. Điều này tạo ra một vòng lặp bế tắc, khiến những tiếng nói trung lập phải giữ im lặng vì sợ bị tổn hại bởi sự chụp mũ của đám đông đang bị dẫn dắt.

Chìa khóa giúp cáo buộc kích động hận thù dân tộc phát huy hiệu quả nằm ở việc thể chế đã tự đánh đồng bản thân với quốc gia và dân tộc từ trước. Vì vậy bất kỳ ai phê phán cách thức cai trị của thể chế đều dễ dàng bị diễn dịch thành đang phản bội dân tộc hoặc xúc phạm lòng tự tôn dân tộc. Khi một người vạch trần việc thể chế dùng quá khứ để kích động thù hận, họ có thể bị đáp trả rằng đang xúc phạm những người đã ngã xuống, một cái bẫy logic lợi dụng nỗi đau của quá khứ để làm lá chắn cho những sai lầm của hiện tại.

Có một quy luật thường thấy trong các chiến dịch tuyên truyền là cáo buộc đối phương chính xác những gì mình đang làm nhằm làm mất giá trị của chính cáo buộc đó khi nó thực sự được đưa ra bởi phía khác. Khi một thể chế lặp đi lặp lại rằng các thế lực thù địch đang kích động hận thù, thì đến khi có người chỉ ra sự thật đó ở chính họ, công chúng đã được gieo sẵn phản xạ liên tưởng đến những luận điệu đã từng bị cảnh báo trước đó. Người tố cáo vì thế bị đẩy vào cái khung diễn giải mà thể chế đã dựng sẵn từ trước khi sự việc xảy ra.

Thủ thuật tố cáo ngược phát huy hiệu quả vì nó đánh vào phản xạ cảm xúc thay vì tư duy logic của công chúng. Sự sợ hãi bị coi là kẻ thù của dân tộc khiến nhiều người không dám lên tiếng dù nhận ra bất hợp lý. Sự lười biếng tư duy khiến việc tin vào một câu chuyện ta địch đơn giản trở nên dễ chịu hơn nhiều so với việc phân tích các tầng nấc phức tạp của chính trị và lịch sử. Tâm lý bầy đàn cũng góp phần khi số đông cùng lên án một người là kẻ kích động, khiến cá nhân đó chịu áp lực phải thu mình lại dù họ đúng.

Trong số các chế độ tập quyền nói trên, các chế độ cộng sản mang một số đặc điểm thể chế riêng biệt lý giải vì sao lối hành xử này ở họ đặc biệt bền vững và mang tính hệ thống hơn so với các dạng tập quyền khác. Nguồn gốc sâu xa của lối hành xử đặc thù này nằm ở niềm tin của chủ nghĩa Mác Lênin rằng mình nắm giữ chân lý khoa học về tiến trình lịch sử nhân loại. Nếu đảng cầm quyền tự xem là thực thể duy nhất hiểu được quy luật tất yếu của lịch sử, thì mọi sự phản đối hoặc đa nguyên tư tưởng không còn được nhìn nhận như một ý kiến khác biệt mà bị xem là sai lầm hoặc phản động, tức đi ngược lại quy luật phát triển. Khi một thể chế tin rằng mình đang thực hiện một sứ mệnh cao cả như giải phóng giai cấp hay xây dựng một xã hội lý tưởng, mọi phương tiện kể cả dối trá, tuyên truyền, hay bạo lực đều dễ dàng được hợp thức hóa, vì sự tuyệt đối hóa mục tiêu khiến họ coi thường các chuẩn mực đạo đức hoặc pháp lý thông thường.

Tập trung dân chủ là cấu trúc khung của các đảng cộng sản kiểu Lênin, và dù mang tên dân chủ nguyên tắc này thực chất được thiết kế để tập trung quyền lực lên cấp cao nhất. Mọi quyết định của cấp trên trở thành mệnh lệnh bắt buộc đối với cấp dưới, và một khi lãnh đạo đã đưa ra quyết định thì mọi thảo luận phải chấm dứt. Cơ chế này tạo ra sự phục tùng gần như tuyệt đối trong nội bộ, khiến những người có tư duy phản biện hoặc đạo đức độc lập bị loại khỏi bộ máy ngay từ đầu, trong khi chỉ những người sẵn sàng dùng thủ đoạn để bảo vệ sự thống nhất của đảng mới tồn tại lâu dài, biến lối hành xử này thành một cơ chế sàng lọc mang tính hệ thống chứ không phải ngẫu nhiên.

Khác với các hệ thống phân quyền nơi lập pháp hành pháp và tư pháp tách biệt, trong chế độ cộng sản đảng cầm quyền thường đứng trên các nhánh quyền lực đó. Đảng vẫn vận hành qua luật pháp và bộ máy quan liêu, nhưng đồng thời xuyên thấu vào các thiết chế này thông qua việc kiểm soát nhân sự, quân đội, công an, và tư pháp, khiến luật pháp phục vụ ý chí của đảng thay vì đứng độc lập với đảng. Khi quyền lực của đảng không bị giám sát bởi cơ chế bầu cử tự do hay xã hội dân sự độc lập, quyền lực đó có xu hướng tự tha hóa, vì giới cầm quyền chỉ cần trả lời trước nội bộ đảng chứ không phải trước cử tri, từ đó hình thành tâm lý xem việc giữ vị trí lãnh đạo là mục tiêu tồn vong duy nhất.

Nhiều chế độ cộng sản, dù hình thành từ một cuộc cách mạng nội tại như trường hợp Nga hay Trung Quốc, hoặc được thiết lập từ bên ngoài như tại phần lớn Đông Âu sau Thế chiến hai, đều có xu hướng định hình tư duy cầm quyền theo một dạng tâm lý trạng thái bao vây, tức luôn nhìn thế giới qua lăng kính ta và địch. Vì không có chính danh thông qua bầu cử tự do, họ buộc phải liên tục làm mới sự chính danh của mình bằng cách tạo ra các kẻ thù cũ và mới, và lo sợ rằng nếu công nhận quyền tự do cá nhân hay tư tưởng đa nguyên thì toàn bộ hệ thống sẽ tan rã. Vì vậy việc tuyên truyền, chụp mũ, và kiểm soát thông tin không phải là những hành vi nhất thời mà là cơ chế vận hành giúp duy trì sự ổn định của một cấu trúc vốn không có khả năng tự điều chỉnh thông qua đối thoại, một hệ thống được xây dựng để tự bảo vệ hiệu quả nhưng lại thiếu khả năng tự đổi mới.

u/Sea-Bunch-vn — 1 month ago

Văn hóa Việt Nam bị thất truyền một phần là do nhà Minh Trung Quốc

Như chúng mày đã biết, nhà Minh từ lúc thành lập đã không ngừng đòi hỏi nhà Trần, và sau này là nhà Hồ cống nạp, sưu thuế nặng nề

Đến thời Đại Ngu của nhà Hồ, do không còn đủ sức cống nạp, cộng thêm sự kiện đuổi giết sứ giả nhà Minh, hoàng đế nhà Minh lúc bấy giờ là Minh Thành Tổ, tên thật là Chu Đệ, tức giận. Hắn đã mượn cớ phục hồi nhà Trần mà xâm lược Việt Nam, bắt đầu thời kỳ bắc thuộc dưới cái tên Giao Chỉ trong suốt 20 năm. Trong thời kỳ đó, Chu Đệ đã sai người tàn phá văn hóa Việt Nam một cách triệt để

Mệnh lệnh từ Chu Đệ năm 1406 được ghi lại với nội dung: “Hễ gặp bất kỳ sách vở, văn tự nào của người bản địa... thì phải tiêu hủy, không được để lại một chữ”.

Chính sách hủy hoại văn hóa này đã khiến hàng loạt di sản vô giá của hai triều đại Lý - Trần bị thất truyền hoặc không còn nguyên bản:

  1. Các bộ Sử học và Địa lý bị tịch thu hoặc tiêu hủy:

Đại Việt Sử Ký (Lê Văn Hưu) – Bộ chính sử đầu tiên của nước ta, được cho là bị quân Minh tịch thu mang về Trung Quốc.

Tục Đại Việt Sử Ký (Trần Chu Phổ) – Bộ sử nối tiếp thời Trần, không còn bản gốc lưu truyền đến ngày nay.

Sử Ký (Đỗ Huy) – Tác phẩm sử học giá trị thời Trần, hiện không còn nguyên bản.

Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên) – Bản gốc thời Trần bị mất, bản ngày nay là do người đời sau chép lại và hiệu đính.

Hạ Long dư địa chí & An Nam chí – Các tài liệu bản đồ, địa lý biên cương được cho là bị quân Minh thu giữ để phục vụ cai trị.

  1. Các bộ Luật pháp và Thể chế bị thất truyền:

Hình thư (Thời Lý) – Bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, không còn nguyên bản khiến hậu thế không rõ chi tiết luật pháp thời này.

Quốc triều hình luật (Thời Trần) – Bộ luật chính thức của vương triều Trần, hiện không còn được lưu truyền đầy đủ.

Hoàng triều đại điển và Trần triều đại chính – Các bộ sách quy định nghi lễ cung đình, trang phục và thể chế chính trị thời Trần được cho là đã thất truyền.

  1. Tinh túy Quân sự và Binh pháp bị thất truyền:

Binh thư yếu lược (Trần Quốc Tuấn) – Bản gốc được cho là đã thất truyền. Bản lưu truyền ngày nay đã qua nhiều lần sao chép, hiệu đính, không còn chắc chắn là nguyên bản.

Vạn Kiếp tông bí truyền thư (Trần Quốc Tuấn) – Cuốn binh pháp bí truyền của dòng họ Trần, hiện không còn được lưu truyền nguyên vẹn.

  1. Văn học, Triết học và Y học bị đứt gãy:

Tứ thư thuyết ước và Tiệp kính tiệp giải (Chu Văn An) – Các tác phẩm giáo dục, triết học và y học của người thầy Chu Văn An hiện không còn nguyên bản.

Thượng kinh tập (Nguyễn Trung Ngạn) và Cơ sào tập (Trần Nguyên Đán) – Các tập thơ, ký sự ngoại giao và lịch pháp của các đại thần thời Trần được cho là đã thất truyền hoặc chỉ còn lại một phần.

Thiền uyển tập anh – Bản gốc ghi chép về Phật giáo Lý - Trần không còn, bản hiện tại do các thế hệ sau sao chép, chỉnh lý và phục dựng.

  1. “An Nam Tứ Đại Khí” bị phá hủy, nấu chảy để phục vụ chiến tranh:

Không chỉ sách vở, nhiều công trình và bảo vật bằng đồng lớn cũng được cho là đã bị phá hủy trong giai đoạn thuộc Minh, khiến 4 kỳ quan nổi tiếng của nước ta không còn tồn tại nguyên vẹn:

Tháp Báo Thiên (Hà Nội) – Phần mái hoặc cấu kiện bằng đồng đã bị tháo dỡ, nấu chảy.

Chuông Quy Điền (Hà Nội) – Quả chuông lớn nổi tiếng trong sử sách

Vạc Phổ Minh (Nam Định) – Chiếc vạc khổng lồ bị phá hủy trong giai đoạn biến động này.

Tượng Phật Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) – Pho tượng lớn nổi tiếng

20 năm thuộc Minh đã để lại một khoảng trống lịch sử rất lớn. Vì không còn nhiều bản gốc, hậu thế ngày nay khó có thể biết chính xác những tác phẩm tinh túy ấy từng viết những gì. Đó chính là một trong những niềm tiếc nuối lớn nhất của văn hóa Việt Nam.

u/Sea-Bunch-vn — 1 month ago

Đăng tin "phản động" vụ nổ súng ở Đắk Lắk, 13 trường hợp bị công an mời làm việc

Qua rà soát, lực lượng công an phát hiện 13 trường hợp đăng tải, chia sẻ bài viết lợi dụng vụ án để xuyên tạc, bôi nhọ Đảng và Nhà nước.

https://laodong.vn/phap-luat/dang-tin-xuyen-tac-vu-no-sung-o-dak-lak-13-truong-hop-bi-cong-an-moi-lam-viec-1730502.ldo

Để ý là tội bôi nhọ đảng chứ không phải là "tung tin sai sự thật"

u/Sea-Bunch-vn — 2 months ago

Từ 01/7/2026, gửi email che giấu danh tính, "nặc danh" bị phạt đến 70 triệu đồng

Theo đó, tại điểm b khoản 5 Điều 96 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, hành vi che dấu tên, địa chỉ điện tử của mình hoặc giả mạo tên, địa chỉ điện tử của tổ chức, cá nhân khác khi gửi thư điện tử, tin nhắn bị phạt từ 50 - 70 triệu đồng. 

reddit.com
u/Sea-Bunch-vn — 2 months ago

Học theo năng lực, điểm theo nhu cầu?

Nhưng mà con cháu quan chức cộng sản đi du học hết rồi thì ai học trường này?

u/Sea-Bunch-vn — 2 months ago

Chuẩn bị Thread trở thành ổ bò đỏ

Mà nhân tiện bọn công an để con nít quản lý page facebook à mà 10 page công an thì 9 page ăn nói mất dạy và không có tôn ti trật tự gì. Hay do giáo dục công an chỉ đến thế?

u/Sea-Bunch-vn — 2 months ago