Image 1 — Kiếp tay sai: búa liềm Giao Chỉ lặp lại tư tưởng của các lão đại Trung Nam Hải
Image 2 — Kiếp tay sai: búa liềm Giao Chỉ lặp lại tư tưởng của các lão đại Trung Nam Hải

Kiếp tay sai: búa liềm Giao Chỉ lặp lại tư tưởng của các lão đại Trung Nam Hải

Peter Navarro từng nhận định, rằng về mặt cơ bản Việt Nam đã trở thành thuộc địa của chính quyền Trung Nam Hải. Thực tế chứng minh như hình

Sở dĩ những lập luận ở trong các hình đó xuất phát từ đảng Cộng sản Trung Quốc, vốn có mâu thuẫn về mặt tư tưởng với Liên Xô từ những năm 1950. Các nhà lãnh đạo Trung Cộng, vốn là những kẻ đánh giá những người đồng sự bằng thang đo phần trăm cùng hệ quy chiếu đậm mùi máu đỏ, cho rằng Iosif Stalin có công nhiều hơn tội, và con đường mà Nikita Khrushchyov theo đuổi khi ấy là một sự phản bội đê hèn. Cũng chính vì lẽ ấy, mà Trung Cộng giữ vững một niềm tin rằng Nikita Khruschyov là điểm khởi đầu cho sự tan rã của chế độ Xô viết Nga; các nhà lãnh đạo hậu bối và kẻ cuối cùng lãnh đạo chế độ ấy chỉ là những mồi rơm chờ bén lửa

Trước bối cảnh chia rẽ về quan hệ giữa hai "người anh em" ấy, lãnh đạo Bắc Việt dầu ráng sức giữ cân bằng giữa hai bên, song vẫn bị mê hoặc bởi những bùa ngải do Mao Trạch Đông chế tạo, vì thế mới có vụ "xét lại chống đảng". Sau năm 1972, việc Mao Trạch Đông chọn giao hảo với Mỹ để đánh Nga Xô đã động đến lòng ái quốc vĩ đại của các nhà lãnh đạo và con dân Bắc Việt. Bắc Việt, và Hà Nội sau 1975, ngả dần về Liên Xô cho tới khi chế độ này tàn lụi hoàn toàn vào năm 1991

Các bá quan hậu bối ngu dốt và giáo điều, vốn dĩ không hiểu được những vấn đề ấy, mà chỉ bám vào những thứ sách vở cũ kỹ lỗi thời. Nay với những bài như trong hình, đã đủ minh chứng cho sự đớn hèn đến nhục nhã của các thầy các mợ Đại Lỗ. Các thầy cả mợ lớn chấp nhận làm con chiên cho thầy chăn Tập Cận Bình, và đưa những thứ rác rưởi từ Bắc quốc về để làm suy tàn dân khí nước Nam. Tất cả chỉ để cho một mục tiêu chính trị, mà có lẽ đến mãn đời sẽ chẳng bao giờ hướng tới

u/hungdungnguyen — 10 hours ago

Nghé đỏ vô học khinh thường dân Bangladesh xuất ngoại sau phong trào sinh viên

Bài như trên hình quý vị thấy, là của trang fanpage từng dung dưỡng cho một nhân cách đội bô - Đỗ Duy Khánh. Nguyên dòng trạng thái của trang "tin" ấy cũng đủ nói lên vấn đề

Có một điều mà đám nghé đỏ đi hầu cận không công hoặc có công cho các quan thầy không hề biết, ấy là khả năng xây dựng của một chính quyền lâm thời sau cố sự ở từng quốc gia. Những xứ vừa trải qua kách mệnh ôn huề như Bangladesh hay Nepal là những quốc gia hỗn hợp về chính thể và mô hình kinh tế. Sau biến loạn, tuỳ vào khả năng điều hành của nhà lãnh đạo lâm thời, mà những quốc gia ấy dần dà phục hồi và từng bước phát triển, tái hồi hội nhập toàn cầu. Ngược lại, ở những quốc gia từng có thời gian được cai trị bởi bàn tay sắt, cho dù có mần "kách mệnh" mà kẻ cai trị kế nhiệm vẫn xử dụng bàn tay sắt và trật tự cũ để điều hành quốc gia, cho dù có thời kỳ gọi là phát triển ở thời cũ, thì vận mệnh của quốc gia ấy không khác gì từ nồi sang chảo

Bangladesh sở dĩ chưa thể phục hồi hoàn toàn nền kinh tế, một phần do các cơ sở sản xuất bị phá huỷ trong thời loạn, phần khác do bối cảnh địa chính trị, và phần còn lại là do khả năng của các nhà lãnh đạo thời hậu Hasina. Để có thể phục hồi hoàn toàn quốc gia, có lẽ các nhà lãnh đạo đương tiền của Bangladesh đã phải chấp nhận giải pháp rủi ro nhất, là áp dụng mô hình xuất khẩu lao động. Điều này khác hoàn toàn so với xứ Đại Lỗ của chúng ta, tất nhiên là do năng lực của các thầy các mợ, nhưng trong bối cảnh này, Đại Lỗ chấp nhận hy sinh cho ngoại quốc cốt để đổi lấy đồ hàng rẻ mạt, vốn không phải là một cách làm khôn ngoan để "tiến nhanh, tiến mạnh" tới con đường GDP trên 10% - mà nguyên nhân chính nằm ở đâu chắc quý vị thừa rõ

Các nghé đỏ tội nghiệp nhìn vào trường hợp của ông "thiến sót" muốn truyền bá chính trị theo cách dễ hiểu hơn cho người trẻ vốn học ít chơi nhiều, mà đánh đồng hoàn toàn cho cả một quốc gia vừa trải qua biến loạn và chưa thể gượng dậy nổi sau thời ấy. Trong khi chính ông thánh tổ của các nghé nhà ta từng được nêu gương như một ví dụ cho việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài. Các nghé đỏ nhộng đỏ cứ nhìn thấy Tây thấy Mỹ là lại lôi cuộc chiến từ nửa thế kỷ trước ra để ăn vạ, trong khi không hề nhìn lại đất nước thời nay đã trở nên "vinh quang", "vẻ vang" tới mức hở ra là thuế khoá phạt vạ, cùng đủ những thứ vô lý khác bủa vây đời sống thời nay. Các nghé thương cho những phận nghèo ở trời Tây, trong khi có những đứa nhìn dòng người ở những đường Trần Phú Hà Nội, đường Lê Duẩn Sài Gòn mà chết thèm. Cuối cùng, chính cái "khai phóng" mà các con giời cờ đỏ tối ngày lên đồng, lại là những thứ để thoát khỏi cuộc đời tối tăm hèn mọn, chứ không phải cái lối học tầm chương trích cú, tủ đè, chim vẹt, hay những trên "tích" dưới "hợp" mang danh "cải cách"

u/hungdungnguyen — 1 day ago

ĐÀI LOAN KHÔI PHỤC GIÁO DỤC “CHỐNG CỘNG SẢN” GIỮA LÚC TRUNG QUỐC GIA TĂNG ÁP LỰC QUÂN SỰ

Reuters, ĐÀI BẮC - Bộ Quốc Phòng Đài Loan hôm Chủ Nhật (5/7) cho biết quân đội nước này đã khôi phục các lớp giáo dục yêu nước “chống cộng sản” dành cho học viên tốt nghiệp các học viện quân sự, sau hơn một phần tư thế kỷ gián đoạn, trong bối cảnh Đài Bắc cảnh báo mối đe dọa từ Bắc Kinh ngày càng gia tăng.

 

Các học viên học viên quân sự Đài Loan trong một buổi diễn hành biểu dương lực lượng. Hình: Reuters

Trong thời Chiến Tranh Lạnh, Đài Loan từng triển khai rộng rãi các chiến dịch tuyên truyền cảnh báo về mối nguy từ “những kẻ cướp cộng sản” tại Trung Quốc, quốc gia luôn xem hòn đảo dân chủ này là một phần lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, chương trình chính thức mang tên “giáo dục yêu nước chống cộng sản” dành cho học viên tốt nghiệp quân đội đã chấm dứt vào năm 2002, sau đó được đổi tên thành “giáo dục yêu nước.”

 

Trong một tuyên bố, Bộ Quốc Phòng Đài Loan cho biết các lớp học dành cho học viên tốt nghiệp học viện quân sự được nối lại vì nguy cơ quân sự và hoạt động xâm nhập từ Trung Quốc đang gia tăng.

 

“Điều cần thiết là họ phải hiểu rõ các mối đe dọa đối với an ninh quốc gia, đồng thời nhận thức được sứ mệnh quân sự: ‘vì sao chúng ta chiến đấu, và chiến đấu cho ai’,” tuyên bố nêu rõ.

 

Bộ Quốc Phòng Trung Quốc chưa trả lời yêu cầu bình luận ngoài giờ làm việc. Bắc Kinh lâu nay không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực để đặt Đài Loan dưới quyền kiểm soát của mình.

 

Theo Bộ Quốc Phòng Đài Loan, các viên chức thuộc nhiều cơ quan, gồm Hội Đồng Các Vấn Đề Đại Lục — cơ quan phụ trách chính sách đối với Trung Quốc — Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Bộ Tư Pháp và Viện Hàn Lâm Khoa Học Đài Loan, sẽ tham gia giảng dạy cho các học viên tốt nghiệp.

 

Bộ này nói thêm rằng mục tiêu của chương trình là giúp các học viên “nhận thức rõ ràng về bạn và thù.”

 

Quân đội Trung Quốc gần như hoạt động hằng ngày quanh đảo Đài Loan.

 

Tính đến Thứ Sáu (3/7), Đài Loan đang theo dõi mức kỷ lục hơn 110 tàu quân sự và tàu tuần duyên Trung Quốc di chuyển dọc chuỗi đảo thứ nhất, ông Ngô Chiêu Nhiếp, Tổng Thư Ký Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Đài Loan, viết trên X vào cuối ngày Thứ Bảy (4/7).

 

“Việc Trung Quốc huy động lực lượng hàng hải quy mô lớn dọc chuỗi đảo thứ nhất là một dấu hiệu rõ ràng của chủ nghĩa bành trướng,” ông Ngô viết, nhắc đến khu vực trải dài từ Nhật Bản đến Đài Loan, Philippines và Borneo.

 

Cùng ngày, Lực Lượng Tuần Duyên Trung Quốc đã mở một đợt tuần tra mới ngoài khơi bờ biển phía đông Đài Loan, khiến Đài Bắc phản ứng gay gắt và khẳng định Bắc Kinh không có quyền tài phán trong vùng biển này. Chính phủ Đài Loan bác bỏ các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

reddit.com
u/hungdungnguyen — 1 day ago

LÀM NAILS, BƯNG PHỞ CÓ GÌ XẤU?

Bài viết dưới đây là của một người bạn trên Facebook. Chúng tôi chưa có dịp gặp nhau, nhưng khi đọc, tôi thấy như anh ấy đang nói thay tâm sự của rất nhiều người Việt xa xứ, trong đó có gia đình tôi (tựa bài: LÀM NAILS, BƯNG PHỞ CÓ GÌ XẤU?).

Vợ chồng tôi sang Mỹ khi đã ở tuổi trung niên. Vợ tôi làm nail, còn tôi từng bưng phở, chùi nhà vệ sinh trong nhà hàng. Sau đó tôi đi học ESL rồi trở lại trường học và sau này làm việc full time tại một nursing home. Vợ tôi vẫn gắn bó với nghề nail.

Hai vợ chồng chỉ biết chăm chỉ làm việc, cố gắng nuôi con, vun vén cho gia đình nhỏ ở Mỹ và vẫn phụ giúp gia đình ở Việt Nam khi có thể. Hôm nay nhìn lại, hai con đều đã trưởng thành. Một cháu là Doctor of Pharmacy (Dược sĩ), một cháu là Doctor of Dental Surgery (Nha sĩ). Đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của vợ chồng tôi.

Tôi tin rằng có rất nhiều gia đình người Việt ở Mỹ cũng đã đi qua những chặng đường tương tự. Nghề nail, bưng phở hay bất cứ công việc lao động chân chính nào cũng đều đáng được trân trọng, vì phía sau đó là sự hy sinh để nuôi con ăn học và chăm lo cho người thân.

Làm nail hay bưng phở không có gì phải xấu hổ. Điều đáng chê là THAM NHỮNG và KIẾM TIỀN bằng những cách làm tổn hại đến người khác.

*******

https://preview.redd.it/kg670qodibbh1.png?width=1179&format=png&auto=webp&s=f7bb5f5b15f9132a59babcdf8d188428e01647c1

Lực lượng xung kích của đảng trên mạng, còn gọi là Lực lượng 47, gồm toàn những đứa vừa vô học vừa hung hăng... Dạo này chúng nó lên mạng chửi bới, đánh phá lung tung. Đặc điểm của bọn này là cứ mở mồm là chửi "ba que" và "nail tộc." Chúng miệt thị người Việt Hải Ngoại chỉ toàn làm nails và bưng phở... kiểu như đó là những ngành nghề dơ bẩn, hạ tiện...

Trước hết, nói về "ba que." Ba que là cách chúng nó gọi lá cờ vàng ba sọc. Nếu tranh luận thì đó là một chuyện dài... Nói ngắn gọn, cờ "ba que" đã được treo liên tục tại Viêt Nam từ thời Gia Long (1802–1820) cho đến 1975. Trong khi đó cờ đỏ CS chỉ có "lịch sử" từ 1940. Như vậy cờ Tổ Quốc là cờ nào đã rõ!

Thứ hai, làm nails thì có gì xấu? Cộng đồng Người Việt Hải ngoại (NVHN) chỉ mới hình thành sau 1975 và tiếp tục định cư sau phong trào vượt biển, HO, và bảo lãnh. Hầu hết người Việt đến Mỹ bằng hai bàn tay trắng, lại không biết Tiếng Anh. Để mưu sinh, thì làm bất cứ chuyện gì có thể làm ra tiền là người ta làm. Hai cái nghề mà người Việt hải ngoại tham gia nhiều nhất, đó là làm nails và bán phở! Vì đơn giản là không cần biết nhiều tiếng Anh, họ vẫn làm được...

Nói về làm nails. Đó là một nghề khá đơn giản. Chỉ cần chăm chỉ, chịu khó và khéo tay là có thể trở thành một thợ nails, và kiếm được khá nhiều tiền. Làm nails tuy "bẩn" vì phải làm việc với hoá chất nhiều và cọ xát với thân thể khách hàng... nhưng thu nhập của họ hoàn toàn không bẩn! Nếu so với tiền tham nhũng của các quan chức Việt Cộng thì tiền làm nails nó sạch và thơm hơn rất nhiều!

Còn nói về phở... Phở là một thành công của cộng đồng người Việt. Trước 1975, thế giới không biết nhiều về ẩm thực Việt Nam. Sau 1975, người Việt mang phở, bánh mì, bún bò Huế, chả giò và những món khác... đi khắp thế giới. Nhờ những quán phở đó mà ngày nay ẩm thực Việt được biết đến và ưa chuộng trên khắp hành tinh. Con cháu bác, đứa nào xổng ra ngoài được, không cần ngôn ngữ, không cần học hành, nếu không biết làm gì để sống thì cứ trương bảng Phở, bánh mì, chả giò... và chịu khó làm việc thì chuyện kiếm sống là tương đối dễ dàng. Gặp thời, nhiều khi còn giàu to...

Nói Cộng đồng Việt Hải ngoại đa phần làm nails, bưng phở là đúng. Nhưng không có gì để miệt thị hai cái nghề đó cả. Nhiều cha mẹ đến Mỹ đi làm nails, bưng phở để nuôi con thành bác sĩ, kỹ sư... Thế hệ sau tốt hơn thế hệ trước... Hiện nay thì cộng đồng NVHN non trẻ đã vươn lên không thua kém bất kỳ cộng đồng nào.

Nói tóm lại, làm nails hay bưng phở không làm xấu ai cả. Chỉ có tham nhũng, đục khoét, ăn cướp của thiên hạ về cho mình mới xấu. Văn hoá Việt từ bao đời lúc nào cũng dạy con người biết phân biệt đâu là phải, đâu là trái, cái nào sạch và cái nào bẩn...

Người Mỹ ngắn gọn hơn "Dirty hands make clean money" nghĩa là Tay bẩn làm ra tiền sạch...

Sau mấy chục năm được hấp thu nền văn hoá Mác Lê, văn hoá Việt gần như bị biến dạng nên mới có người nghĩ ngược, giàu có trên mồ hôi, xương máu của đồng loại là tài năng còn lao động chân chính là sỉ nhục!!!

Không! Làm nails, bưng phở KHÔNG HỀ XẤU.

Ăn hối lộ mới xấu!

(*) Tác giả: Đoản Kiếm. Biên soạn lần đầu năm 2019.

Dẫn, viết lời bình và đăng lại bởi facebooker Duy Duong

reddit.com
u/hungdungnguyen — 1 day ago

59 quốc gia vào tầm ngắm: Luật mới của TQ cho phép truy tố cả người ở nước ngoài

TrithucVN2.net - Ngày 1/7/2026, một đạo luật hoàn toàn mới của ĐCSTQ chưa từng có tiền lệ, bị thế giới bên ngoài gọi là “đạo luật cánh tay nối dài cấp độ vũ khí hạt nhân” – Luật Thúc đẩy Đoàn kết và Tiến bộ Dân tộc của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – chính thức có hiệu lực trên phạm vi toàn cầu. Đây tuyệt đối không phải là đạo luật nội địa thông thường, mà là đạo luật đầu tiên trên thế giới công khai luật hóa, hợp pháp hóa và thể chế hóa hành vi “đàn áp xuyên quốc gia”. Sự ra đời của đạo luật này đang giăng nên một mạng lưới truy bắt xuyên quốc gia vô hình nhưng cực kỳ nguy hiểm nhằm vào cộng đồng người Hoa trên toàn thế giới và tất cả những ai quan tâm đến vấn đề nhân quyền tại Trung Quốc.

Báo cáo về đàn áp xuyên quốc gia. (Nguồn ảnh: Ảnh do Vision Times tổng hợp; ảnh chụp màn hình trang web của Freedom House)

Nếu bạn cho rằng chỉ cần rời khỏi phạm vi địa lý của hai bờ eo biển và ba khu vực (Đại lục, Hồng Kông, Ma Cao), rồi đăng tải bất kỳ phát ngôn nào chỉ trích Bắc Kinh trên mạng xã hội ở nước ngoài, hoặc đơn thuần trò chuyện về chính trị Trung Quốc với bạn bè trong các nhóm riêng tư là có thể tuyệt đối an toàn, thì có lẽ bạn đã đánh giá thấp tốc độ tiến hóa của chế độ chuyên chế. “Đây không phải là một đạo luật nhằm duy trì đoàn kết, mà là một lệnh truy nã toàn cầu, thể chế hóa và lưu manh hóa quyền tài phán ngoài lãnh thổ.”

“Quyền tài phán vũ trụ” vượt trên luật pháp quốc tế

Vì sao một đạo luật nghe có vẻ mang ý nghĩa hòa hợp như vậy lại khiến giới địa chính trị toàn cầu, các học giả luật học và các cơ quan an ninh quốc gia phương Tây đồng loạt dậy sóng? Chúng ta cần nhìn thẳng vào Điều 63 – điều khoản bị xem là nguy hiểm nhất của đạo luật này. Nguyên văn quy định:

>“Các tổ chức và cá nhân ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thực hiện các hành vi phá hoại đoàn kết dân tộc hoặc gây chia rẽ dân tộc nhằm vào nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.”

Chỉ vài chục chữ ngắn ngủi này lại ẩn chứa một logic pháp lý mang tính lưu manh khiến người ta rùng mình:

Thứ nhất, đạo luật này hoàn toàn xóa bỏ giới hạn lãnh thổ. Dù bạn đang ở Đài Bắc, New York hay Toronto, chỉ cần hiện diện ở bất kỳ nơi nào trên Trái Đất, thậm chí trong tương lai là một phi hành gia ngoài không gian hoặc trên Sao Hỏa, chỉ cần bị ĐCSTQ cho là vi phạm pháp luật thì họ đều tuyên bố có quyền tài phán. Kiểu đặt quyền tài phán của mình lên trên chủ quyền của các quốc gia khác này có thể được xem là thứ “quyền tài phán vũ trụ” hết sức phi lý.

Thứ hai, đạo luật không phân biệt quốc tịch. Bất kể bạn mang hộ chiếu Đài Loan, thẻ xanh Mỹ, thẻ thường trú Canada hay là chính khách, học giả phương Tây sinh ra và lớn lên tại bản địa, chỉ cần phát ngôn của bạn không làm Bắc Kinh hài lòng thì bạn đều có thể trở thành “tội phạm” theo đạo luật này.

Đáng sợ hơn là khái niệm thế nào là “phá hoại đoàn kết dân tộc” hay “gây chia rẽ dân tộc” hoàn toàn mơ hồ, đúng nghĩa một “tội danh bỏ túi”. Theo đánh giá mới nhất của các chuyên gia an ninh quốc gia, trong các hoạt động liên quan đến Đài Loan và hải ngoại, ĐCSTQ đang áp dụng logic cực đoan kiểu “không thống nhất tức là ly khai”: không tích cực bày tỏ ủng hộ thống nhất thì bị xem là ngầm chia rẽ; nhấn “thích” các bài viết ủng hộ Tân Cương, Tây Tạng hoặc phong trào dân chủ Hồng Kông trên Facebook là phá hoại đoàn kết; phản đối chủ nghĩa dân tộc Hán cực đoan là gây chia rẽ. Đến cuối cùng, nếu không hô vang “Đảng Cộng sản muôn năm”, hoặc từ chối giao tài sản cá nhân để ĐCSTQ thực hiện “thịnh vượng chung”, cũng có thể bị quy vào điều khoản có phạm vi áp dụng cực kỳ co giãn này. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử pháp quyền toàn cầu có một quốc gia có chủ quyền công khai luật hóa hoạt động đàn áp xuyên biên giới với phạm vi rộng lớn như vậy.

>“Theo logic ‘không thống nhất tức là ly khai’, duy trì nguyên trạng hoặc giữ im lặng cũng có thể bất cứ lúc nào bị quy kết là trọng tội ‘chia rẽ dân tộc’.”

Bãi mìn chết người: Cái bẫy “truy bắt xuyên biên giới” tại 59 quốc gia ký hiệp ước

“Quân tử không vào nơi nguy hiểm, không đứng dưới bức tường sắp đổ.” Có lẽ bạn sẽ cười và nói: “Luật của ĐCSTQ dù ngông cuồng đến đâu thì chẳng lẽ họ có thể trực tiếp cử công an sang đường phố New York hay Đài Bắc để bắt tôi?”

Quả thực, tại các quốc gia đồng minh theo pháp quyền như Anh và Mỹ, quyền lực công của ĐCSTQ không thể trực tiếp can thiệp. Tuy nhiên, một khi bạn rời khỏi những quốc gia an toàn này để đến du lịch, công tác hoặc quá cảnh tại 59 quốc gia đã ký hiệp ước dẫn độ với Trung Quốc, thì nguy hiểm chết người có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Ngay khi bạn bước qua cửa hải quan của các quốc gia này, chỉ cần phía Trung Quốc khởi động cơ chế tương trợ tư pháp hoặc phát thông báo phối hợp điều tra, lực lượng thực thi pháp luật địa phương có thể căn cứ theo pháp luật để bắt giữ bạn tại chỗ, sau đó cưỡng chế đưa bạn lên chuyến bay về Bắc Kinh. Danh sách đen gồm 59 quốc gia này là giới hạn an toàn mà mọi người yêu tự do ở hải ngoại cần phải ghi nhớ.

Theo khu vực địa lý, các vùng nguy hiểm được phân chia như sau:

Thứ nhất, khu vực nguy cơ cao tại châu Á: Đông Nam Á gồm Thái Lan, Philippines, Việt Nam, Malaysia, Campuchia, Lào và Indonesia là tuyến đầu trong hoạt động thực thi pháp luật xuyên biên giới của ĐCSTQ. Các quốc gia này có mối liên kết rất sâu với Bắc Kinh về chính trị, kinh tế và hợp tác cảnh sát. Trước đây đã xảy ra vô số vụ những nhà bất đồng chính kiến ở hải ngoại bị bắt cóc bí mật tại đây, hoặc công dân Đài Loan bị trục xuất thẳng về Trung Quốc bất chấp quyền tài phán tư pháp. Ngoài ra, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan ở Trung Á, cùng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (Dubai), Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Afghanistan ở Trung Đông, đều là những nơi mà việc qua cửa hải quan chẳng khác nào “mở túi mù”; những người nhạy cảm về chính trị có thể trở thành con bài mặc cả trong các cuộc giao dịch địa chính trị bất cứ lúc nào.

Thứ hai, những “bãi mìn vô hình” ở châu Âu: Đây là nơi mà người ta dễ chủ quan nhất. Trong suy nghĩ của nhiều người, châu Âu phát triển, dân chủ và coi trọng nhân quyền, sao có thể hợp tác với ĐCSTQ để bắt người được? Tuy nhiên, trước đây nhằm thúc đẩy thương mại và chống tội phạm kinh tế, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Áo, Hungary và Hy Lạp đều đã ký hiệp ước dẫn độ với Trung Quốc. Đặc biệt, Tây Ban Nha từng cưỡng chế dẫn độ hơn 200 công dân Đài Loan về Trung Quốc trong “Chiến dịch Vạn Lý Trường Thành”; Hungary còn là nước tiên phong thân Trung Quốc, thậm chí từng cho phép công an ĐCSTQ tuần tra phối hợp trên đường phố Budapest.

Tuy nhiên, cục diện địa chính trị mới đang dần hình thành. Sau khi Luật Thúc đẩy Đoàn kết và Tiến bộ Dân tộc chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7, nhiều Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc đã ra tuyên bố chung, mạnh mẽ lên án đạo luật này vì vi phạm nghiêm trọng nhân quyền quốc tế; Nghị viện châu Âu cũng đang khẩn cấp xem xét nghị quyết kêu gọi toàn bộ các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu “lập tức đình chỉ các hiệp ước dẫn độ với Trung Quốc”. Vì vậy, tại các khu vực này của châu Âu, tuy chưa đến mức phải đối mặt ngay với việc truy bắt trên thực tế, nhưng mức độ bất định về chính trị và pháp lý là rất cao. Tránh được thì vẫn là lựa chọn tốt nhất.

Đáng chú ý là Úc. Mặc dù Úc đã ký hiệp ước dẫn độ với Trung Quốc từ năm 2007, nhưng do sự phản đối mạnh mẽ của Quốc hội Úc và các tổ chức nhân quyền, hiệp ước này “chưa bao giờ được phê chuẩn để có hiệu lực”. Đồng thời, chính quyền Canberra cũng đã chính thức đình chỉ hiệp định dẫn độ với Hồng Kông, vì vậy Úc hiện vẫn được xem là quốc gia an toàn.

Thứ ba, những điểm mù tại châu Phi và châu Mỹ: Nam Phi, Kenya, Ethiopia, Cộng hòa Dân chủ Congo, Ai Cập, cùng Mexico, Peru, Brazil, Argentina, Chile và Panama ở châu Mỹ. Kenya từng bất chấp nhiều sức ép để cưỡng chế đưa những người mang hộ chiếu Đài Loan, bị trùm đầu rồi áp giải sang Trung Quốc. Tại những khu vực này, “ngoại giao đồng tiền” của Bắc Kinh gần như có thể dàn xếp mọi tranh cãi pháp lý. Những người nhạy cảm về chính trị, nếu không thực sự cần thiết, nên loại hoàn toàn các quốc gia này khỏi danh sách điểm đến.

>“Đông Nam Á là vùng không có pháp quyền đối với hoạt động thực thi pháp luật xuyên biên giới của ĐCSTQ; còn một số quốc gia châu Âu lại là những bãi mìn pháp lý được khoác lên lớp áo dân chủ.”

Dòng chảy ngầm dữ dội: Lệnh truy nã đỏ và các “đồn cảnh sát hải ngoại” bất hợp pháp

Chiếc thòng lọng vô hình không cần hiệp ước dẫn độ: Vậy nếu đến Mỹ, Canada, Anh, Nhật Bản hay Đức – những nước không ký hiệp ước dẫn độ với Trung Quốc – thì có thể hoàn toàn yên tâm hay không? Câu trả lời vẫn là không.

Điểm độc hại của đạo luật này là ngoài con đường dẫn độ chính thức, ĐCSTQ còn mở thêm hai kênh đàn áp xuyên biên giới vô hình khác.

Thứ nhất là lạm dụng “Lệnh truy nã đỏ của Interpol”. Bắc Kinh thường xuyên gán các hoạt động bất đồng chính kiến hoặc phát ngôn tôn giáo thành các tội danh như “tội phạm kinh tế”, “huy động tiền gửi trái phép” hoặc “kích động khủng bố”, rồi phát lệnh truy nã đỏ trên toàn cầu. Nếu quốc gia bạn nhập cảnh không kiểm tra nghiêm ngặt các lệnh truy nã đỏ tại cửa khẩu, bạn vẫn có nguy cơ bị bắt giữ ngay tại sân bay.

Thứ hai là các “đồn cảnh sát hải ngoại” bí mật và “chế độ liên đới đối với thân nhân”. Những năm gần đây, cộng đồng quốc tế liên tiếp phanh phui việc ĐCSTQ lập các điểm cảnh vụ bí mật bất hợp pháp tại những đô thị lớn như New York, Toronto, Paris và Tokyo. Họ không thông qua quy trình tư pháp của nước sở tại mà cử đặc vụ hoặc huy động các lãnh đạo cộng đồng người Hoa để theo dõi, giám sát và đe dọa bạn suốt ngày đêm ở nước ngoài. Tệ hại hơn nữa, họ còn bắt giữ cha mẹ hoặc con cái của bạn tại Trung Quốc làm con tin, rồi thông qua cuộc gọi video hoặc điện thoại để tra tấn tinh thần, ép bạn “tự nguyện về nước đầu thú”. Kiểu hủy hoại tinh thần xuyên biên giới này còn khiến người ta rùng mình hơn cả việc bị dẫn độ trên thực tế.

“Khi pháp luật trở thành cây roi của những kẻ độc tài, thì con tin và sự đe dọa sẽ trở thành vũ khí xuyên biên giới mà họ sử dụng thành thạo nhất.”

Người khôn tránh hiểm nguy, gìn giữ ánh sáng tự do giữa bóng tối

Khi chủ nghĩa độc tài tà ác biến pháp luật thành công cụ và tìm cách đưa cánh tay nối dài của mình vươn tới từng tấc đất có chủ quyền trên toàn thế giới, thì thực tế mỗi chúng ta đều không còn đường lui. Trước Luật Thúc đẩy Đoàn kết và Tiến bộ Dân tộc đang bao trùm khắp nơi này, cộng đồng người Hoa ở hải ngoại và những người yêu chuộng tự do không cần rơi vào trạng thái hoảng loạn cực độ, nhưng nhất định phải duy trì mức độ cảnh giác cao nhất.

Có ba nguyên tắc phòng vệ thiết thực:

Bảo vệ tuyệt đối quyền riêng tư cá nhân: Khi phát biểu trên các nền tảng mạng xã hội ở hải ngoại (như Facebook, X, Threads), tuyệt đối không sử dụng tên thật, không đăng ảnh chân dung rõ nét, càng không nên dễ dàng công khai thông tin hộ chiếu hoặc lịch trình đi lại cụ thể.

Thận trọng lên kế hoạch quá cảnh: Khi đặt vé máy bay, cần kiểm tra kỹ quốc gia nơi có sân bay trung chuyển. Bangkok (BKK) của Thái Lan và Dubai (DXB) của UAE là những sân bay có nguy cơ cao, nơi ảnh hưởng của ĐCSTQ có thể dễ dàng vươn tới. Thà tốn thêm một khoản chi phí vé máy bay còn hơn; hãy chọn quá cảnh tại các sân bay an toàn, có nền pháp quyền độc lập như Narita (Tokyo), Changi (Singapore), Heathrow (London) hoặc các sân bay tại Mỹ và Canada.

Đoàn kết đối phó, tuyệt đối không nhân nhượng: Nếu ở nước ngoài gặp phải sự quấy rối, theo dõi hoặc đe dọa nhằm vào người thân từ các tổ chức thân Bắc Kinh hoặc những người không rõ danh tính, tuyệt đối không nên âm thầm chịu đựng. Hãy lập tức thu thập chứng cứ và liên hệ trực tiếp với cơ quan thực thi pháp luật tại địa phương (như FBI của Mỹ, RCMP của Canada hoặc các cơ quan chống can thiệp nước ngoài của các quốc gia), hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tổ chức nhân quyền quốc tế, để những mối đe dọa trong bóng tối không còn nơi ẩn náu dưới ánh sáng của nền pháp quyền dân chủ.

“Không vào nước nguy, không ở nơi loạn.” Đây là một cuộc chiến lâu dài để bảo vệ tự do. Chỉ cần chúng ta luôn duy trì cảnh giác cao độ và bảo vệ tốt chính mình, thì cánh tay thép của ĐCSTQ đang tìm cách bóp nghẹt mọi tiếng nói tự do cuối cùng cũng sẽ bị bẻ gãy hoàn toàn trước sự bao vây và phản công của công lý quốc tế.

reddit.com
u/hungdungnguyen — 1 day ago

Ông Tập Cận Bình muốn Đảng Cộng sản Trung Quốc có 'quyền lực nhất thế giới'

BBC Việt ngữ, BẮC KINH - Hiện nay, tham vọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là chuyển mình từ "đảng chính trị lớn nhất thế giới" thành "đảng chính trị quyền lực nhất thế giới", theo một bài xã luận của Tân Hoa Xã ngày 1/7.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho rằng ĐCSTQ cần theo kịp những thay đổi của hoàn cảnh, đồng thời bảo vệ các thành quả đã đạt được, trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 105 năm thành lập đảng, theo Reuters.

Trong bài phát biểu kéo dài khoảng 40 phút tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ông Tập – nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Trung Quốc kể từ thời Mao Trạch Đông – kêu gọi các cán bộ, đảng viên chủ động nhận diện và thích ứng với sự thay đổi, đồng thời tiếp tục thúc đẩy công tác của đảng.

Ông không nêu cụ thể những cơ hội hay rủi ro mà Trung Quốc đang đối mặt. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, tăng trưởng kinh tế chậm lại và tình trạng già hóa dân số đang là những thách thức lớn đối với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

"Quá trình phát triển của Trung Quốc hiện đang ở giai đoạn mà các cơ hội chiến lược song hành với những rủi ro và thách thức," ông Tập nói, đồng thời kêu gọi đảng phối hợp hiệu quả hơn để xử lý các vấn đề trong nước và quốc tế.

Ông cũng nhấn mạnh Đảng Cộng sản Trung Quốc cần tăng cường kỷ luật nội bộ, kiên quyết chống tham nhũng và duy trì lòng trung thành với các lý tưởng của đảng.

Về vấn đề Đài Loan, ông Tập tái khẳng định mục tiêu "thống nhất" với hòn đảo và kêu gọi thực hiện chiến lược tổng thể của đảng nhằm giải quyết vấn đề này.

Chính quyền Đài Loan đáp lại rằng đây chỉ là sự lặp lại các lập trường lâu nay của Bắc Kinh, đồng thời kêu gọi Trung Quốc đối thoại mà không đặt ra điều kiện tiên quyết.

https://preview.redd.it/6cefifko2qah1.png?width=800&format=png&auto=webp&s=69d1cf43bb549a0a655512169c178ca4e4b4c4db

Bài phát biểu được đưa ra trong bối cảnh Bắc Kinh tiếp tục chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn, trong đó nhiều quan chức, đặc biệt trong quân đội, đã bị điều tra và cách chức trong những năm gần đây.

Trước những thách thức bên ngoài như các biện pháp hạn chế công nghệ do phương Tây dẫn đầu, quan hệ thương mại bất ổn với Mỹ và căng thẳng liên quan đến Đài Loan, ban lãnh đạo ĐCSTQ xem việc tăng cường kiểm soát đối với mọi lĩnh vực của xã hội là nhiệm vụ then chốt.

Được thành lập năm 1921 chỉ với vài chục thành viên, Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện có hơn 100 triệu đảng viên, tương đương khoảng 7,2% dân số cả nước.

Ông Tập kêu gọi các đảng viên loại bỏ những yếu tố gây tổn hại đến sự phát triển và "tính trong sạch" của đảng, cũng như loại trừ "mọi loại virus làm xói mòn cơ thể khỏe mạnh của đảng".

Kể từ khi lên nắm quyền năm 2012, ông Tập đã nỗ lực tái khẳng định quyền lực tuyệt đối của Đảng, yêu cầu lòng trung thành và kỷ luật nghiêm ngặt trong nội bộ, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn cầu.

Ông cũng phát động một trong những chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn nhất kể từ thời ông Mao Trạch Đông, điều tra hàng triệu quan chức ở mọi cấp.

'Hướng ngoại' hơn

Theo CNBC, bài phát biểu của ông Tập Cận Bình mang giọng điệu "hướng ngoại" rõ rệt hơn so với trước đây.

Ông Tập nhấn mạnh rằng Trung Quốc và Đảng Cộng sản đã "thay đổi sâu sắc xu thế và quỹ đạo phát triển của thế giới thông qua quá trình đấu tranh không ngừng", đồng thời mô tả đây là "đảng cầm quyền lớn nhất thế giới với ảnh hưởng toàn cầu đáng kể".

Bài phát biểu lần này được đánh giá là khác với các dịp trước, vốn tập trung nhiều hơn vào mục tiêu phát triển trong nước như "phục hưng dân tộc".

Ông Tập cũng cho rằng những "biến đổi chưa từng có trong một thế kỷ" đang gia tốc và thế giới đã bước vào "một kỷ nguyên mới của biến động và chuyển đổi".

Trong bối cảnh đó, Trung Quốc sẽ thúc đẩy xây dựng "một kiểu quan hệ quốc tế mới", dù không nêu cụ thể quốc gia nào.

Ông cũng nhấn mạnh yếu tố quân sự khi nói rằng "một đất nước mạnh phải có quân đội mạnh, và chỉ có quân đội mạnh mới bảo đảm được an ninh quốc gia".

Theo hãng thông tấn AP, bài phát biểu thể hiện sự tự tin ngày càng tăng của Trung Quốc, cả trong nước lẫn trên trường quốc tế.

Bài tường thuật phát biểu của ông Tập trên AP cho rằng Trung Quốc không tìm cách thay thế trật tự quốc tế hiện tại, mà muốn định hình lại để phản ánh tốt hơn lợi ích của các nước đang phát triển.

Trong khi đó, kênh CNA nhận định Đảng Cộng sản Trung Quốc được đặt vào vị trí lực lượng có khả năng dẫn dắt đất nước vượt qua một thế giới ngày càng bất ổn và đầy thách thức.

reddit.com
u/hungdungnguyen — 4 days ago

Việt Nam khuyến khích sinh thêm con giữa lo ngại già hóa dân số

AFP, HÀ NỘI - Một năm sau khi Việt Nam bãi bỏ quy định giới hạn hai con, vốn tồn tại trong nhiều thập niên, chính phủ nước này đang đưa ra một loạt ưu đãi nhằm khuyến khích các gia đình sinh thêm con, trong bối cảnh nước này đối mặt nguy cơ “chưa giàu đã già”.

https://preview.redd.it/yyt8d4j9pkah1.png?width=830&format=png&auto=webp&s=defb481d3aa635cc32962925e14888bb83ec889a

Luật dân số mới cùng các quy định có hiệu lực từ thứ Tư, ngày 1/7, kéo dài thời gian nghỉ thai sản từ sáu lên bảy tháng đối với phụ nữ sinh con thứ hai, đồng thời đưa ra một số khoản hỗ trợ tài chính.

 

Với bà Nguyễn Kim Bích, một cư dân Hà Nội, nếu vợ chồng bà quyết định sinh con thứ hai, bà sẽ được nghỉ thai sản thêm một tháng, được khám thai miễn phí và nhận một khoản tiền thưởng nhỏ.

 

“Tôi có thể ở nhà thêm một tháng với em bé, và chồng tôi cũng có thể nghỉ thêm vài ngày,” người phụ nữ 32 tuổi nói, trong lúc con trai nhỏ của bà chơi trong một bể bóng nhựa nhiều màu.

 

Theo chính sách mới, nhà nước sẽ trợ cấp chi phí khám thai và khám sơ sinh, đồng thời chi khoản thưởng một lần lên tới 228 đô la Mỹ — tương đương khoảng hai phần ba mức lương trung bình hằng tháng — cho những bà mẹ đáp ứng một số điều kiện nhất định.

 

“Đây là một thay đổi đáng kể trong cách tiếp cận,” bà Phạm Thị Lan, Trưởng ban Dân số và Phát triển của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam, nói. “Chúng ta đang chuyển từ kiểm soát kế hoạch hóa gia đình sang tập trung vào phát triển dân số.”

 

Sự thay đổi này diễn ra tại một quốc gia mà, cho tới năm ngoái, đảng viên cộng sản vẫn có thể bị kỷ luật nếu sinh con thứ ba. Nó cũng phản ánh một bức tranh nhân khẩu học ngày càng đáng lo ngại.

 

Tuổi thọ tăng trong khi tỷ lệ sinh giảm đang khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Các xu hướng này một mặt phản ánh những thành tựu phát triển trong những năm gần đây, nhưng mặt khác khiến giới kinh tế cảnh báo về nguy cơ thiếu hụt lao động và áp lực ngày càng lớn lên hệ thống an sinh xã hội.

 

Luật dân số mới được giới chức kỳ vọng sẽ làm chậm lại quá trình chuyển đổi nhân khẩu học này.

 

Tuy nhiên, đối với bà Bích và chồng là ông Lai — một người làm kế toán, một người làm trong ngành quảng cáo — những ưu đãi đó vẫn chưa đủ. Gần một nửa khoản thu nhập hằng tháng khoảng 1.000 đô la Mỹ của hai vợ chồng đã được dùng để nuôi con đầu lòng, trong khi cả gia đình đang sống chung trong một căn nhà nhỏ với bố mẹ chồng.

 

“Những phúc lợi đó là tốt, nhưng chưa đủ. Thêm một tháng nghỉ phép và 75 đô la Mỹ không thể thuyết phục chúng tôi sinh thêm con thứ hai,” bà nói, nhắc tới khoản tiền thưởng mà bà dự kiến có thể nhận.

 

Chính sách khuyến khích gia đình hai con ở Việt Nam có nguồn gốc từ thập niên 1960, khi chính quyền Bắc Việt thời đó tìm cách kiềm chế đà tăng dân số trong thời chiến. Quy định giới hạn chính thức được thông qua năm 1988, nhưng việc thực thi chưa bao giờ nghiêm ngặt như tại Trung Quốc, nơi các biện pháp triệt sản và phá thai cưỡng bức từng đi kèm với chính sách một con trước khi chính sách này bị bãi bỏ vào năm 2016.

 

Hiện nay, Việt Nam chưa rơi vào vòng xoáy suy giảm dân số như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Tỷ lệ sinh của Việt Nam đã thấp hơn mức thay thế 2,1 con trên mỗi phụ nữ, nhưng ở mức 1,93, con số này vẫn cao hơn so với nhiều nước phát triển. Trong khi đó, tuổi thọ trung bình đã tăng lên gần 75 tuổi, còn tỷ lệ người trên 60 tuổi đã vượt 10% dân số.

 

Theo dự báo của chính phủ, đến giữa thế kỷ này, người trên 60 tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số Việt Nam, và dân số nước này sẽ bắt đầu giảm.

 

Điều khiến giới kinh tế lo ngại là quá trình chuyển đổi này đang diễn ra khi Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển sớm hơn nhiều nước từng trải qua tình trạng già hóa nhanh.

 

Việt Nam hiện nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á, nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn còn thấp. GDP bình quân đầu người vào khoảng 5.000 đô la Mỹ — bằng một nửa mức của Nhật Bản vào đầu thập niên 1980, khi tỷ lệ sinh của nước này tương đương với Việt Nam hiện nay, chưa tính lạm phát. Điều này có nghĩa là, Việt Nam sẽ có “ít thời gian hơn để thích nghi với một xã hội già hóa so với nhiều nền kinh tế phát triển khác”, Ngân hàng Thế giới cảnh báo trong một báo cáo năm 2021.

 

Báo cáo cho rằng Việt Nam chỉ có một “khoảng thời gian ngắn” để tiến hành cải cách trước khi phải đối mặt với nguy cơ “suy giảm tăng trưởng nghiêm trọng”.

 

Các lãnh đạo Việt Nam đương nhiệm cũng xem luật dân số mới là một phần trong lời giải cho thách thức này, đồng thời ca ngợi đây là một đạo luật tiên phong trong khu vực.

 

Bà Lan của UNFPA hoan nghênh luật mới, cho rằng văn bản này “giải quyết sự thay đổi nhân khẩu học hiện nay” và trao thêm quyền cho các cặp vợ chồng trong việc quyết định sinh con. Tuy nhiên, bà cũng thừa nhận giới hạn của các khoản trợ cấp một lần, nói rằng để thay đổi quyết định của cha mẹ, thường cần có sự hỗ trợ lâu dài trong suốt quá trình nuôi dạy con. Nếu không có sự “hỗ trợ toàn diện” hơn, chi phí nhà ở và chăm sóc trẻ em cao sẽ tiếp tục “cản trở mọi người thực hiện mong muốn có con”, bà nói.

 

Nhận định này phù hợp với một khảo sát gần đây của chính phủ, trong đó 73% người đã kết hôn cho biết tiền lương ảnh hưởng đến quyết định sinh con của họ.

 

Trần Minh Anh, 24 tuổi, làm thu ngân tại Hà Nội với mức thu nhập khoảng 380 đô la Mỹ mỗi tháng, cũng có chung tâm trạng.

 

“Tôi có thể không sinh con được không?” cô nói, cho biết “áp lực quá lớn, cả về tài chính lẫn tinh thần”. “Làm sao tôi có thể chăm sóc thêm một người nữa? Không đời nào!”

reddit.com
u/hungdungnguyen — 5 days ago

Chết đến đít vẫn còn cay và bản chất chó đái của Trung Nam Hải

Quý vị coi hình là đủ hiểu.

Suốt từ năm 2014 đến giờ, Tập Cận Bình vẫn chưa hết cay cú vì toà quốc tế xử thắng cho Phi Luật Tân. Các xứ khác, nếu có liên quan, cũng sẽ được xử thuận. Và cho dù có vặn trẹo lưỡi thế nào thì cùng lắm Tập Cận Bình cũng chỉ thu phục được vài thằng tay sai bủng beo, chứ không thể nào xoay được những thằng xóm giềng khác có những nhà lãnh đạo ra dáng lãnh đạo

Vừa rồi, có lẽ vì bị các ông lớn bên Phi Luật Tân thúc cho đau điếng, Tập Cận Bình giận tím người và cho đăng một bức tranh biếm bậy bạ, như đã dẫn. Có lẽ do nhìn đâu cũng thấy thằng Mỹ, và tất cả là tại thằng Mỹ, cho nên Bình ta mới "soáng tộ" bằng cách trút hờn cho người Mỹ, mà không biết rằng y đang trét phân lên mặt cả thế giới. Coi thứ biếm hoạ điên dại này, mới thấy một nhà lãnh đạo quốc gia như Trung Quốc có lẽ cũng không khác gì một đứa trẻ hay hờn dỗi; so với Dmitry Medvedev, Tập Cận Bình coi bộ một chín một mười

Ông Tập Cận Bình ạ, cuộc chơi của thế giới này công bằng lắm. Thằng Mỹ yếu thì ông mạnh, thằng Mỹ mạnh thì ông xì, đó là điều hiển nhiên. Người ta sòng phẳng có qua có lại đường hoàng, ông nhìn lại coi ông còn gì? Cái mớ "bờ rít" do nhà ông sáng chế ra cũng chỉ là một mớ giẻ rách, toàn thân ai nấy lo. Vành đai với con đường của nhà ông cũng hỏng bét rồi. Ở xứ ông, đến cả những nước văn minh nhất cũng chẳng ngờ được là người dân nước ông đang sống trong một nhà giam khổng lồ, nơi mọi thứ được quyết định bởi những mắt thần từ Bắc Kinh, ai chống lại chúng thì bị đày ải tới độ sống không bằng chết. Còn ông nữa, sau bao lần đấu đá nội bộ, chắc có lẽ ông đang lo sợ tới mức hoắng lên như Tần Thuỷ Hoàng những năm cuối đời, hỉ. Cũng phải thôi, sau mấy mươi năm đấu trời đấu đất, cha con nhà ông cùng những người mà ông gọi là thầy cứ tưởng bản thân đang trên đỉnh cao muôn trượng, té ra cũng đang lo lắng trước viễn cảnh núi tan sông lở, nhấn chìm hết mọi thứ tiền bạc của nả các ông đã "làm" ra. Vì những chuyện ấy mà các ông ráng sức trấn an cả thế giới rằng, các ông vô tội và chỉ có những thằng Tây thằng Mỹ đang chơi đểu các ông, trong khi các ông quên mất ngàn vạn năm trước các ông đã từng như thế nào đến nỗi nuôi thù chuốc oán lên cả ngàn vạn dân tộc láng giềng tới độ không thể rửa sạch cho đặng

Đương nhiên, là chúng tôi sẽ coi kết cục sau cùng của ông sẽ ra sao, thưa ông Tập Cận Bình. Đừng nghĩ rằng ông có thể bất chấp tất cả để được thiên niên trường trị. Trời cao có mắt, và đừng nghĩ rằng những thế lực siêu linh không là gì so với ông cùng những người "thầy" của ông!

u/hungdungnguyen — 6 days ago

Báo chí TP HCM: Sống sôi nổi và chết âm thầm dưới ngọn cờ của Đảng

Những sạp báo trên vỉa hè trong thời đỉnh cao của báo giấy tại Sài Gòn-TP HCM. Ảnh chụp năm 2006

BBC Việt ngữ, SÀI GÒN - Một nhà báo của tờ Tuổi Trẻ viết trên Facebook cá nhân: "Sáng nay thức dậy… lòng chợt chùng xuống, dù đã lâu rồi mình sống với 'vạn sự tùy duyên'... Tạm biệt tờ báo giấy Tuổi Trẻ thơm mùi mực đã gắn bó với cuộc đời 51 năm."

Một nhà báo khác, cũng Tuổi Trẻ, viết: "Dẫu biết đời thay đổi, báo chí cũng thay đổi, nhưng sao vẫn thấy có gì đó tiếc nhớ, ngậm ngùi…"

Một nhà báo tờ Pháp Luật TP HCM đăng lên Facebook những hình ảnh của buổi làm việc cuối cùng. "Còn tối nay, đây là những tờ báo đầu tiên của số báo cuối cùng. Một trời thương nhớ," ông viết.

Một nữ phóng viên tờ Người Lao Động đăng lên Facebook hình ảnh cô đang dọn đồ khỏi tòa soạn. Rất nhiều người vào thả tim và những giọt nước mắt.

Trên trang Facebook cá nhân, Tiến sĩ Lê Hồng Giang, một chuyên gia kinh tế-tài chính nổi tiếng, kể lại lần ông ghé thăm tòa soạn Thời báo Kinh tế Sài Gòn mới đây.

"Tại sao lại đóng cửa? Các anh chị ở tòa soạn cũng không biết, chúng ta không biết, càng không ai được hỏi ý kiến," ông viết.

Và ông bày tỏ: "Tôi không tin nhu cầu cho một tờ báo nghiêm túc chuyên về kinh tế không còn, tôi cũng không tin business model [mô hình kinh doanh] của tờ báo không còn khả thi, họ không lấy một đồng từ ngân sách."

Trên mạng xã hội những ngày này, có thể cảm nhận được một không khí xót xa, tiếc nuối, những lời thở than từ những người làm việc tại các cơ quan báo chí ở Sài Gòn-TP HCM. Nhưng không có phản đối, dù rằng, qua cách thể hiện, có thể thấy điểm chung là họ đều thấy quyết định của chính quyền về việc dẹp hàng loạt cơ quan báo chí của thành phố để gom về một mối là điều không hợp lý.

Thời Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn từng có một nền báo chí tự do đầy màu sắc, dù vẫn có một số hạn chế do điều kiện chiến tranh. Sài Gòn-TP HCM của thời hậu 1975 tiếp tục có sinh hoạt báo chí sôi nổi, dù vận hành trong khuôn khổ cho phép của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quá khứ sôi nổi ấy đã khép lại vào ngày 30/6, với sự đóng cửa hàng loạt cơ quan báo chí, để hình thành nên một cơ quan chung có chức năng của một cỗ máy tuyên truyền khổng lồ (hay một tập đoàn báo chí-truyền thông hiện đại?).

Thời hừng hực và hồn nhiên cách mạng

Trước khi tờ Tuổi Trẻ ngưng phát hành báo giấy, và một loạt tờ báo khác đóng cửa, vào ngày 30/6, báo chí tại thành phố thịnh vượng và đông dân nhất Việt Nam từng có một quá khứ sôi nổi.

Mở đầu là giai đoạn sục sôi và hồn nhiên với sứ mệnh tuyên truyền lối sống mới và các chính sách của Đảng sau ngày thống nhất. Tiếp đó là một khoảng thời gian khá dài, khi báo chí được hưởng không khí tự do tương đối. Và cuối cùng, khoảng một thập niên trở lại đây, không gian báo chí bị bóp lại, và ngày 30/6 này là thời điểm cáo chung của một giai đoạn báo chí Sài Gòn-TP HCM.

Sau ngày Sài Gòn thất thủ 30/4/1975, có hai tờ báo thời Việt Nam Cộng hòa được phép hoạt động: nhật báo Tin Sáng của nhóm Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Lý Quí Chung và tờ Đứng Dậy, tên mới của Tạp chí Đối Diện trước 1975, do các linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan chủ trương.

Đây là các trí thức, chính trị gia, chức sắc tôn giáo trước 1975 có lập trường chống chiến tranh, chống các chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, có người có cảm tình với Mặt trận Giải phóng, trong khi số khác giữ lập trường trung lập. Họ được gọi là Thành phần thứ ba và được kỳ vọng là cầu nối cho quá trình hòa giải, hòa hợp, tập hợp trí thức sau 1975.

Việc chính quyền cho phép hai tờ báo của Thành phần thứ ba tái bản có mục đích rõ ràng: sử dụng những tờ báo, những ký giả quen thuộc của Sài Gòn để nói chuyện với dân Sài Gòn, với người miền Nam về chính sách của chính quyền cách mạng.

Trong Hồi ký không tên, ông Lý Quí Chung – cựu Tổng trưởng Bộ Thông tin trong giai đoạn tối hậu của Việt Nam Cộng hòa và sau 1975 nổi tiếng với bút danh Chánh Trinh – kể: "Đầu tháng 9/1975,[…] nhật báo Tin Sáng tái bản. Sự hiện diện trở lại của một tờ báo quen thuộc với người Sài Gòn trước 1975 rõ ràng đã có ảnh hưởng tích cực trong bối cảnh mới có nhiều điều rất mới mẻ và xa lạ với người dân Sài Gòn nay được mang tên mới Thành phố Hồ Chí Minh."

Đây là giai đoạn mà chính quyền mới đã lập nên một số tờ báo trên thành phố vừa im tiếng súng. Đầu tiên là tờ Sài Gòn Giải Phóng và Phụ Nữ Sài Gòn – ra đời vào tháng 5/1975. Tiếp đó là các báo Tuổi Trẻ (tháng 9/1975), báo Công Nhân Giải Phóng, sau này được đổi tên thành Người Lao Động.

Sau khi ra đời, các tờ báo của TP HCM đã lập tức tham gia vào công cuộc tuyên truyền của chính quyền cách mạng.

Trong một bài viết trên Tuổi Trẻ, ông Trần Bạch Đằng kết án đanh thép: "Một trong những tội ác tày trời của đế quốc Mỹ và bọn tay sai" là "phủ nhận cái đẹp chân chính, cái đẹp về nội dung, cái đẹp tinh thần" và "cổ vũ cho cái đẹp hình thức, cái đẹp giả tạo, cái đẹp vật chất đơn thuần".

Tác giả Trần Bạch Đằng, trong một bài viết khác về đường Tự Do – sau 1975 có tên là Đồng Khởi – trên Tuổi Trẻ vào ngày 13/1/1979 đã ghi nhận những khốn khó của thành phố, nhưng đồng thời phê phán sự "trù phú giả tạo" của quá khứ: "[…] Chúng ta chỉ phản đối 3 mặt của một sự trù phú nào đó. Một là sự trù phú ấy có thật đại biểu cho sức sản xuất của đất nước ta hay không[…]; hai là cái giá đánh đổi sự trù phú ấy – nó là lao động cần cù và lương thiện của đồng bào ta hay vì muốn có nó mà nhân phẩm, nền tự do của chúng ta bị cướp mất hoặc cắt xén; ba là sự trù phú ấy cho ai, vì ai – một nhúm phè phỡn hay mọi người."

Giữa một thành phố từng phồn vinh nhưng giờ đang vô cùng khốn khó, ông thổi vào độc giả niềm tin: "Rồi đây, chắc như bắp vậy, chúng ta sẽ trù phú, một trù phú không thách thức gì đến lương tri, lòng tự trọng của bất kỳ ai trong chúng ta."

Và ông kết luận: "Ở thành phố này và trong thời điểm này, hễ cái dáng đài các, ăn chơi của những mặt tiền phai lạt đi một ít thì chiều cao tâm hồn tức là cái bên trong sâu lắng của dân thành phố nâng lên một mức."

Báo chí trở thành một phần của đời sống đô thị Sài Gòn-TP HCM. Ảnh chụp năm 2006

Những người làm Tin Sáng và Đứng Dậy đã nhanh chóng hòa vào không khí báo chí hừng hực "hậu giải phóng" ấy. Các tờ báo nhiệt tình tham gia cổ động cho các chương trình của chính quyền cách mạng như học tập cải tạo, đưa dân đi vùng kinh tế mới, cải tạo công thương, bài trừ văn hóa phẩm đồi trụy, cắt tóc, cạo râu, thanh niên xung phong, phê phán chế độ cũ…

Nhà báo Chánh Trinh-Lý Quí Chung, với tư cách phó tổng biên tập Tin Sáng, đã có dịp ra Hà Nội đưa tin họp Quốc hội, lần đầu tiếp xúc với nghị trường của một nước Việt Nam cộng sản sau khi đã quen với không khí nghị trường thời Việt Nam Cộng hòa.

Tác giả Lý Quí Chung viết: "Tin Sáng đã có những đóng góp không nhỏ vào cách thông tin nói riêng và cách làm báo nói chung của báo chí ở Việt Nam sau 1975. Thật ra cái mới của Tin Sáng chỉ là những vận dụng nghiệp vụ của báo chí Sài Gòn trước 1975 nhưng có chọn lọc phù hợp với khuôn khổ báo chí lúc đó."

Những người như Ngô Công Đức, Lý Quí Chung, vốn đã quen với cách làm báo dưới thời Việt Nam Cộng hòa, khi mà họ có thể thẳng thừng phê phán chính quyền trên mặt báo – và khi tòa soạn bị chính quyền đóng cửa, họ ít nhất có thể đứng lên thách thức chính quyền – giờ đây đang phải gò mình để "phù hợp với khuôn khổ".

Chẳng bao lâu sau, Đứng Dậy đã phải "ngồi xuống" vào năm 1978, còn Tin Sáng hoạt động tới năm 1981 thì bị chính quyền cho đóng cửa vì đã "hoàn thành nhiệm vụ".

Tin Sáng bị dẹp, ông Ngô Công Đức vẫn ấp ủ một ngày nào đó được ra tờ báo mới. Nhưng giấc mơ ấy không bao giờ thành hiện thực khi chế độ mới coi báo chí là công cụ và nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.

Ông Lý Quí Chung sau đó có hàng chục năm làm báo trong các tòa soạn "báo chí cách mạng" – như Tuổi TrẻLao Động – và trở thành cây viết thể thao hàng đầu trong thập niên 1980-1990, về cuối đời đã thừa nhận ông luôn có cảm giác không thực sự thuộc về nền báo chí ấy.

Ông chia sẻ trong hồi ký: "Tuy nhiên không thể chối cãi trong 30 năm viết báo và làm báo trong chế độ xã hội chủ nghĩa, tôi vẫn phải gánh trên lưng mình cái lý lịch 'Viên chức cao cấp chế độ cũ'. Có lúc tưởng nó được cắt đi nhưng rồi một vụ việc gì đó xảy đến lại nhắc nhở tôi rằng 'nó'…vẫn còn y nguyên đó. Lâu ngày như kẻ dị tật, mang sẵn 'cái bướu' trên lưng mình, tôi quen dần với 'nó' hoặc cố gắng phớt lờ 'nó'."

Sau năm 1975, có rất nhiều nhà báo như Chánh Trinh: từng có một quá khứ liên quan đến Việt Nam Cộng hòa và nỗ lực hòa mình vào nền báo chí cách mạng. Họ góp phần rất lớn vào việc định hình nên một phong cách đặc trưng của báo chí Sài Gòn – nhanh, thẳng thắn, mạnh mẽ – nhưng có lẽ mỗi người trong họ đều có những nỗi niềm riêng.

Tương tác với quyền lực

Sau ngày 30/4/1975, khi làm việc với Thành đoàn TP HCM, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: "Thanh niên thành phố cần có một tờ báo riêng đáp ứng nhu cầu thông tin cho một triệu thanh niên thành phố." Từ chỉ đạo đó, Báo Tuổi Trẻ đã ra số đầu tiên vào ngày 2/9 cùng năm.

Báo chí thành phố trong một thời gian dài sống bằng nguồn sữa bao cấp. Nhưng trong bối cảnh nền kinh tế kiệt quệ, việc nuôi báo chí trở thành một gánh nặng cho chính quyền.

Vào đầu những năm 1980, ông Võ Văn Kiệt băn khoăn: "Tại sao trước 1975 ở Sài Gòn ai làm chủ báo cũng giàu, mà bây giờ Tuổi Trẻ lại phải ngửa tay xin tiền nhà nước để làm báo?", tiếp đó chính quyền từng bước cắt trợ cấp, mô hình báo chí tự chủ tài chính bắt đầu manh nha và sau đó phát triển mạnh kể từ thập niên 1990.

Báo chí TP HCM giai đoạn này có sự sục sôi, hăng hái của không khí cách mạng, nhưng cũng bắt đầu le lói hạt mầm của phản biện, hoặc đơn giản là phản ánh cảm xúc, thái độ đa dạng của người dân.

Trong sách Bên thắng cuộc, tác giả Huy Đức kể về phong trào bài trừ văn hóa đồi trụy, lai căng, cắt tóc, cạo râu được chính quyền, Thành đoàn triển khai và báo chí cổ vũ nhiệt tình, nhưng người dân thì ta thán. Lúc bấy giờ dân gian có bài vè: "Các Mác mà đến Việt Nam/Râu dài tóc rậm công an bắt liền…"

Lúc đầu, ông Võ Văn Kiệt không hiểu tại sao người dân Sài Gòn lại không ủng hộ chính quyền cách mạng bảo vệ "thuần phong mỹ tục". Ông liền yêu cầu Tổng Biên tập Võ Như Lanh của Tuổi Trẻ tổ chức làm sao để ông nghe được lời nói thật của lớp trẻ.

"Báo Tuổi Trẻ liền cho mời thanh niên thuộc các thành phần khác nhau, những người đã bị cưỡng bức cắt tóc, cắt quần, đến phòng họp của báo. Trước đó, ông Võ Văn Kiệt và Thư ký Nguyễn Văn Huấn đã đến sớm, ngồi 'buông rèm' phía sau lắng nghe," Huy Đức viết.

Trong buổi trao đổi ấy, những bức xúc, dồn nén đã được các thanh niên Sài Gòn nói ra. Họ không biết một ông "Việt Cộng gộc" cũng đang "tâm trạng" lắm khi nghe họ nói. Tổng Biên tập Võ Như Lanh cho hay, khi những thanh niên này về hết, kéo rèm ra, ông thấy Bí thư Võ Văn Kiệt ngồi lặng, mặt rất đăm chiêu.

Một trong những thực tế khắc nghiệt nữa của thời hậu 1975 là chủ nghĩa lý lịch. Nhiều thanh niên đã dở dang giấc mơ vào đại học do lý lịch gia đình liên quan đến "chế độ cũ".

Lúc bấy giờ, theo Huy Đức, Tuổi Trẻ đã cho đăng lá thư của "bạn đọc" Nguyễn Kỳ Tâm, nói về những bế tắc của mình vì lý lịch. Vào ngày 30/9/1977, sau gần ba tháng trời cân nhắc, đắn đo, tờ báo này đã đăng phát biểu của ông Võ Văn Kiệt tại Đại hội Đoàn vào ngày 3/7: "Xã hội phải đối xử công bằng với tất cả lớp người trẻ đi lên với xã hội này, ai ai cũng có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau... Chúng ta lấy thực tâm, thực học, thực tài làm tiêu chuẩn, không để quá khứ ràng buộc tương lai mà hạn chế chí tiến thủ và hoài bão cống hiến của mỗi người trẻ tuổi".

Sau này, trường hợp thanh niên Nguyễn Mạnh Huy quê ở Bình Định học giỏi, thi đậu đại học nhưng không được nhập học do có "lý lịch xấu" cũng đã được các tờ báo phản ánh, từ đó tạo nên sự thay đổi nơi chính quyền trong cách ứng xử với con em các gia đình liên quan đến Việt Nam Cộng hòa.

Khi phản ánh các vấn đề tiêu cực, báo chí TP HCM không tránh khỏi đụng chạm với cường quyền.

Nhà báo Tống Văn Công, cựu Tổng Biên tập Báo Lao Động, trong hồi ký Đến già mới chợt tỉnh đã kể lại chuyện báo chí phanh phui tiêu cực của ông La Ngọc Toàn, chủ nhiệm Hợp tác xã cơ khí Đồng Tâm.

Ông Toàn lúc bấy giờ là điển hình tiên tiến trong lao động xã hội chủ nghĩa, khi báo Công Nhân Giải Phóng (sau này là Người Lao Động) phản ánh tiêu cực của ông Toàn thì bị Phó Chủ tịch quận Gò Vấp, bà Tống Thị Thanh Tuyền, phê bình gay gắt. Ông Nguyễn Văn Linh, người kế nhiệm ông Kiệt ở ghế bí thư Thành ủy, đã khiển trách việc báo chí thiếu thận trọng khi phê bình một cơ sở là "lá cờ đầu thi đua của thành phố".

Một vụ khác cũng được ông Tống Văn Công kể lại là vụ báo Công Nhân Giải Phóng và Lao Động phanh phui sai trái của ông Nguyễn Văn Tài, Phó Giám đốc Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình. Vụ này, theo lời ông Công, đã đụng chạm tới mối làm ăn riêng của phu nhân ông Nguyễn Văn Linh.

Đọc báo giấy một thời là thói quen phổ biến của người dân TP HCM trước khi internet bùng nổ. Ảnh chụp năm 2008

Thời kỳ bùng nổ sau Đổi mới

Chính sách Đổi mới của Đảng dần mở cửa cho kinh tế tư nhân và giao thương quốc tế vào cuối thập niên 1980.

Giai đoạn này có thêm những tờ báo nữa ra đời, như Báo Thanh Niên (1986), Báo Pháp luật TP HCM (1990), Thời báo Kinh tế Sài Gòn (1991), Sài Gòn Tiếp Thị (1995)... Trong đó, Thanh Niên thuộc Trung ương Đoàn nhưng có trụ sở tại TP HCM nên cũng là một phần của nền báo chí thành phố.

TP HCM dần trở thành trung tâm báo chí sôi động nhất cả nước, với các tờ báo cạnh tranh lẫn nhau để phục vụ bạn đọc, dù tất cả đều nằm dưới sự quản lý của Đảng chứ không được thể hiện tự do, đa chiều như trước 1975. Các tờ báo sống bằng ngân sách nhà nước ngày nào giờ đã có thể tự chủ tài chính, thậm chí có nguồn lực tài chính rất hùng mạnh, như trường hợp của Tuổi Trẻ.

Báo chí lúc này, bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền đường lối của Đảng, đã đầu tư sâu vào phóng sự điều tra, phanh phui tiêu cực, đưa tin các vụ đại án như vụ án Nước hoa Thanh Hương, vụ Epco-Minh Phụng.

Trong cơn nhiệt tình cách mạng, cộng với sự cạnh tranh nội dung gay gắt, đôi khi báo chí thành phố cũng gây ra những hậu quả, mà về sau, với độ lùi của thời gian, các nhà báo nhìn lại và cho là "đáng tiếc".

Chẳng hạn, loạt phóng sự về đường dây ăn chơi tại Đường Sơn Quán trên Tuổi Trẻ lúc bấy giờ gây chấn động dư luận, với tính chất vụ việc "vào thời điểm đó là rất bàng hoàng", nhưng sau này nhìn lại "thì chỉ coi như sinh hoạt thường ngày, cùng lắm cũng chỉ hơi bất thường một chút", như nhận xét của nhà báo Nguyễn Hồng Lam.

Từ phóng sự báo chí, một phiên tòa đã được mở, và "sau phiên tòa, gia đình người lính biệt động thành [là một sĩ quan công an nổi tiếng] tan nát, con gái thứ hai của ông quyên sinh..."

Nhà báo Lê Đức Dục bán báo Tuổi Trẻ trên vỉa hè vào năm 2018

Không được tự do quá trớn!

Trong không khí báo chí sôi động của Sài Gòn-TP HCM, trong không khí lạc quan thời mở cửa, dường như có vài vị tổng biên tập đôi lúc quên đi bản chất công cụ của báo chí cách mạng. Đó là lúc tai họa ập đến.

Tháng 5/1991, Báo Tuổi Trẻ đăng bài viết nêu lên khả năng lãnh tụ Hồ Chí Minh có vợ, Tổng Biên tập Vũ Kim Hạnh sau đó bị đình chỉ chức vụ.

Mười năm sau, vào năm 2001, Báo Tuổi Trẻ tổ chức một cuộc khảo sát về thần tượng của giới trẻ. Kết quả cho thấy lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ được 39% người ngưỡng mộ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được 35%, trong khi Thủ tướng Phan Văn Khải chỉ được 3%. Điều đáng nói là Tổng thống Mỹ Bill Clinton nhận được gấp đôi số phiếu của ông Khải, còn tỷ phú Bill Gates được ưa chuộng hơn các ủy viên Bộ Chính trị.

Ban lãnh đạo Đảng đã nổi trận lôi đình, yêu cầu hủy báo và trừng phạt tổng biên tập.

Năm 2008, sau khi công an bắt giam hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến của Thanh Niên và Nguyễn Văn Hải của Tuổi Trẻ vì các bài viết về vụ án tham nhũng PMU18, Báo Thanh Niên đã giật tít trang nhất: Phải trả tự do cho các nhà báo chân chính. Nghe rất đanh thép và đối đầu, chẳng khác gì báo chí tự do của miền Nam trước 1975 thách thức phủ tổng thống. Nhưng không, đây là chính quyền cộng sản và mọi ý định nổi loạn sẽ phải trả giá.

Kết cuộc vụ này, hai tổng biên tập và một số lãnh đạo cấp cao của hai tờ báo lớn nhất nhì Việt Nam mất chức. Hai nhà báo Chiến và Hải vẫn phải lãnh án.

Năm 2018, Tuổi Trẻ Online bị đình chỉ hoạt động ba tháng sau khi đăng tải hai bài viết Chủ tịch nước đồng ý cần ban hành Luật Biểu tình và bài Sao trong quy hoạch chưa thấy cao tốc cho miền Tây?, trong đó bài thứ hai có một bình luận của độc giả bị quy kết là "gây mất đoàn kết dân tộc".

Trang bìa tờ Tuổi Trẻ cuối cùng ra ngày 30/6/2026

Có một thời hồn nhiên, sôi nổi cách mạng, có một thời lạc quan, một thời xông xáo, có nhiều thành tựu và có những sai sót, báo chí Sài Gòn-TP HCM giai đoạn hậu 1975 đã có vai trò rất lớn trong sự phát triển của đất nước, của xã hội, khi tham gia phản ánh mọi mặt của đời sống, và đôi lúc phản biện cả chính sách của trung ương.

Nhưng trong khoảng 10 năm trở lại đây, nền báo chí từng rất sôi động ấy đã dần co lại trong sự quản lý ngày càng được siết chặt của Đảng.

Và hôm nay, những nhà báo của các tờ báo hàng đầu thành phố đang lặng lẽ dọn dẹp bàn làm việc của mình. Mỗi người trong số họ có lẽ có những quan điểm riêng, nhưng tất cả đều lặng lẽ chấp nhận sự xếp đặt của "trên", như cách họ luôn chấp hành định hướng tuyên truyền của Đảng trong nửa thế kỷ qua.

Quyết định đóng cửa các tờ báo TP HCM hôm nay như là sự lặp lại kết luận "đã hoàn thành nhiệm vụ" mà chính quyền dành cho các tờ báo của Thành phần thứ ba gần 50 năm trước.

Tin Sáng đóng cửa vào ngày cuối của tháng 6/1981; đúng 45 năm sau, các báo TP HCM hôm nay cũng đóng cửa vào ngày 30/6. Một sự trùng hợp lạ kỳ của lịch sử!

"Hàng trăm đồng nghiệp của tôi sẽ bắt đầu một cuộc chuyển đổi không mấy dễ dàng. Ngày mai, ngay khi thức dậy, chúng ta có chung một nỗi buồn. Xin được nắm tay những anh, chị, em đồng nghiệp làm báo trực tiếp và gián tiếp. Chúng ta sẽ cùng đi tới."

Một nhà báo đã viết như vậy trong ngày cuối cùng: 30/6/2026.

reddit.com
u/hungdungnguyen — 6 days ago

KHÁI NIỆM CHƯA KỊP ĐỊNH NGHĨA LẠI, HÒN DÁI BẦN NÔNG ĐÃ SUN BA TẤC

https://preview.redd.it/7uhazrul9cah1.png?width=512&format=png&auto=webp&s=8cd8ffa35439614e8459de646083ede5257df6ef

Trước khi có vài anh chị lại vội vàng bảo tôi “mê Tây”, “sính ngoại”, “thấy chữ Tây là sáng mắt”, thì xin nói trước cho đỡ mất công. Nếu thật sự theo dõi cách tôi làm việc với tri thức, mấy anh chị sẽ thấy tôi không có thói quen quỳ trước Tây. Tôi chửi đám triết gia phương Tây suốt. Tôi chửi từ những lối viết triết học mù mờ, những khái niệm bị thổi phồng, cho tới đám giáo sư dùng chữ nghĩa như sương mù để che cái lõi rỗng bên trong. Tôi từng lôi cả những thứ đến từ Harvard, MIT, các trường danh giá, giáo trình danh tiếng, mô hình nghe rất hiện đại ra bóc từng lớp, xem cái nào dùng được, cái nào rác, cái nào chỉ là bao bì học thuật.

Tôi cũng chửi luôn mấy giáo trình tư duy phản biện giẻ rách của Tây. Chửi không phải vì ghét Tây, mà vì nhiều thứ trong đó được viết như thể chỉ cần dạy người ta vài mô hình fallacy, vài sơ đồ lập luận, vài bài tập logic sơ cấp là đã gọi là tư duy phản biện. Với tôi, như thế là quá nông. Tư duy phản biện không phải học thuộc tên lỗi ngụy biện. Nó phải đi vào cách định danh, định nghĩa, định hệ; phải biết một khái niệm đứng ở đâu, vận hành trong hệ nào, tạo ra hiệu ứng gì, che giấu cái gì, mở ra cái gì, và bị giới hạn bởi điều kiện nào. Vì vậy, tôi tự biên soạn một khung tư duy phản biện khác, theo tôi là xịn xò hơn nhiều so với đống giáo trình công nghiệp đang được đóng gói bán như sản phẩm khai sáng.

Nói vậy để rõ: vấn đề ở đây không phải Tây hay ta. Vấn đề là năng lực tiêu hóa khái niệm. Người có bản lĩnh trí tuệ không sợ một khái niệm chỉ vì nó đến từ bên ngoài, cũng không thờ một khái niệm chỉ vì nó được viết bằng tiếng Anh, xuất hiện trong đại học danh tiếng, hay được vài ông bà giáo sư nước ngoài gật đầu. Khái niệm nào cũng phải bị bóc ra. Dùng được thì giữ, sai thì sửa, rỗng thì vứt, thiếu thì bổ sung, lệch hệ thì định nghĩa lại. Đó mới là thái độ học thuật tối thiểu.

Bởi vậy tôi thấy mấy anh chị khá hài hước khi nghe tới chữ giáo dục khai phóng mà đã bắt đầu cảnh giác như gặp tà. Bình thường thì nói chuyện rất sang: đổi mới giáo dục, hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo, tư duy phản biện, công dân toàn cầu, năng lực thế kỷ 21. Nghe qua tưởng như đang đứng ở tiền tuyến của tri thức nhân loại. Nhưng vừa chạm tới mấy chữ “giáo dục khai phóng”, không khí đổi hẳn. Mặt nghiêm lại, giọng hạ xuống, tay bắt đầu tìm công tắc phòng vệ, như thể trước mặt không phải một khái niệm giáo dục, mà là một thứ bùa chú ngoại lai đọc lên một cái là sinh viên lập tức bỏ học, phá làng phá xóm, cãi cha cãi mẹ, phản thầy phản bạn, rồi đốt luôn cái đình làng đạo đức mà mấy anh chị vẫn quen đứng trong đó phát biểu.

Tôi không ngạc nhiên khi có người phản biện giáo dục khai phóng. Phản biện càng tốt. Giáo dục khai phóng không phải kinh thánh. Nó không phải thuốc tiên. Nó không phải mô hình cứ bê nguyên từ phương Tây về là xong. Nó càng không có nghĩa là học lung tung, thích gì học nấy, không cần nghề nghiệp, không cần kỷ luật, không cần chuyên môn. Nếu ai hiểu nó như vậy thì đúng là nên phản biện. Nhưng cái buồn cười là nhiều người chưa phản biện được đến tầng đó. Họ còn chưa định nghĩa lại khái niệm, chưa đặt nó vào hệ Việt Nam, chưa bóc xem phần nào dùng được, phần nào không, phần nào cần sửa, phần nào phải bỏ. Họ sợ luôn cái tên.

Khái niệm chưa kịp được định nghĩa lại, hòn dái bần nông đã sun ba tấc.

Không thích chữ “khai phóng” thì có gì đâu. Định nghĩa lại. Việt hóa lại. Đặt nó vào bối cảnh Việt Nam. Hỏi nó khác gì đào tạo nghề, khác gì giáo dục nhân văn, khác gì giáo dục tổng quát, khác gì tự do học thuật, khác gì giáo dục công dân. Hỏi nó cần điều kiện nào để không biến thành khẩu hiệu rỗng. Hỏi nó có giới hạn gì khi đi vào một xã hội còn nặng thi cử, bằng cấp, phục tùng, thị trường lao động và tâm lý sợ câu hỏi. Đó là việc bình thường của người làm học thuật.

Nhưng không. Nhiều người không làm việc khái niệm. Họ không định danh, không định nghĩa, không định hệ. Họ không mở khái niệm ra để xử lý. Họ phản ứng với nó như một cơ thể yếu phản ứng với món ăn lạ. Nghe chữ lạ, thấy bất an, rồi gắn nhãn nguy hiểm. Đây không còn là phản biện học thuật nữa. Đây là dị ứng khái niệm.

Mà nói cho thẳng, cái phản biện ấy nhiều khi đần bỏ mẹ ra. Nó không đi vào cấu trúc của giáo dục khai phóng, không phân tích nền tảng triết học, không kiểm tra điều kiện xã hội, không so với mục tiêu đào tạo, không hỏi xem con người trong nền giáo dục ấy được hiểu như thế nào. Nó chỉ loanh quanh vài nỗi sợ cũ: học khai phóng rồi sống ích kỷ thì sao, chỉ sống cho bản thân thì sao, không nghe lời nữa thì sao, phá truyền thống thì sao, phá hệ thống thì sao.

Nghe như đạo đức lắm. Nhưng bóc ra thì rất nhiều khi không phải đạo đức. Đó là nỗi sợ mất kiểm soát được bọc trong giấy gói đạo đức. Họ không thật sự sợ con người trở nên ích kỷ. Họ sợ con người bắt đầu tự hỏi cái gọi là “vì tập thể” kia có thật sự vì tập thể không, hay chỉ là một cách bắt cá nhân im miệng để hệ thống cũ tiếp tục vận hành. Họ không thật sự sợ người học phá làng phá xóm. Họ sợ người học nhìn ra cái làng ấy đã mục từ lâu, chỉ được quét vôi bằng vài khẩu hiệu đạo đức giả tạo. Họ không thật sự sợ người học sống cho bản thân. Họ sợ người học không còn ngoan ngoãn hiến đời mình cho những cấu trúc đã quen ăn trên sự ngoan ngoãn đó.

Đây là chỗ cần nói rõ. Giáo dục khai phóng không dạy con người thành kẻ vô trách nhiệm. Ngược lại, nó dạy con người chịu trách nhiệm sâu hơn, vì một người chỉ thật sự có trách nhiệm khi người đó có năng lực tự phán đoán. Một con người chỉ biết vâng lời không phải là con người đạo đức. Đó là một công cụ vận hành đúng lệnh. Công cụ có thể hữu ích, có thể ngoan, có thể được khen, có thể được trao giấy chứng nhận, nhưng công cụ không có đạo đức theo nghĩa đầy đủ. Đạo đức bắt đầu khi con người biết mình đang làm gì, vì sao làm, trong hệ nào, với hậu quả nào, và có đủ can đảm để nói không khi hệ thống yêu cầu mình tiếp tục một điều sai.

Nỗi sợ khai phóng, vì vậy, không chỉ là sợ Tây. Nó sâu hơn. Đó là nỗi sợ một kiểu người không còn dễ bị dắt. Một kiểu người không còn coi truyền thống là cái gậy để tự đập vào đầu mình. Một kiểu người không còn xem “ổn định” là lý do để bảo vệ mọi thứ đang thối. Một kiểu người không còn nghe chữ “đạo đức” là lập tức cúi đầu, mà sẽ hỏi: đạo đức của ai, phục vụ ai, che đậy cái gì, bảo vệ cấu trúc nào, và bắt ai phải trả giá.

Một hệ thống mục nát luôn rất thích nói về đạo đức. Nó cần đạo đức như cái rèm che mùi. Nó nói về hy sinh để người khác tiếp tục hưởng lợi. Nó nói về truyền thống để không ai hỏi truyền thống ấy đang phục vụ ai. Nó nói về cộng đồng để cá nhân thấy tội lỗi khi tự bảo vệ mình. Nó nói về ổn định để những người bị đè nén cảm thấy mình có lỗi nếu muốn thay đổi. Và khi có một mô hình giáo dục dạy người ta hỏi lại những thứ ấy, nó hoảng.

Thế nên mới có cái cảnh rất hài: một số anh chị có học hàm, học vị, chức danh rất dài, nhưng phản ứng trước giáo dục khai phóng như mấy ông già giữ cổng đình thấy đứa trẻ cầm đèn pin chiếu vào góc tối. “Không được chiếu vào đó. Từ xưa đến nay vẫn thế. Chiếu vào là phá làng.” Không, thưa các anh chị. Nếu một cái làng chỉ tồn tại được bằng cách không cho ai chiếu đèn vào chỗ mục, thì vấn đề không nằm ở cái đèn. Vấn đề nằm ở cái làng.

Dị ứng khái niệm là căn bệnh rất phổ biến trong môi trường nửa học thuật, nửa hành chính. Bề ngoài thì có học hàm, học vị, chức danh, hội đồng, đề án, hội thảo, báo cáo. Bên trong thì vẫn là một tâm lý rất cũ: cái gì không quen thì sợ; cái gì không đo ngay ra chức vụ, chỉ tiêu, thang lương, vị trí việc làm thì nghi ngờ; cái gì đụng tới tự do trí tuệ thì lập tức thấy bất an. Tôi gọi đó là tư duy bần hàn. Bần hàn không nằm ở túi tiền. Bần hàn nằm ở biên độ tinh thần.

Có người rất giàu bằng cấp, nhưng nghèo khả năng chứa một ý niệm mới. Có người đi rất xa về mặt hồ sơ, nhưng tinh thần vẫn quanh quẩn trong một cái sân làng trí tuệ, nơi mọi thứ lạ đều bị nhìn như nguy cơ làm hỏng nề nếp. Có người mặc rất nhiều lớp áo học thuật, nhưng bên trong vẫn là tâm lý kho thóc: cái gì không quy đổi ngay được thành thúng gạo thì đáng nghi.

Giáo dục khai phóng, nếu nói gọn, là giáo dục con người trước khi đào tạo chức năng. Nó không hỏi duy nhất: học xong làm nghề gì. Nó hỏi thêm: người học có biết đọc không, biết viết không, biết lập luận không, biết tự học không, biết đặt câu hỏi không, biết nghi ngờ đúng chỗ không, biết phân biệt tri thức, thông tin, khẩu hiệu và tuyên truyền không, biết nhìn một vấn đề từ nhiều hệ quy chiếu không, biết mình đang đứng ở đâu trong thế giới không, biết sống như một chủ thể tự do nhưng có trách nhiệm không.

Những câu hỏi này không hề chống lại đào tạo nghề. Ngược lại, chúng làm cho một người làm nghề bớt ngu hơn. Một kỹ sư có giáo dục khai phóng sẽ bớt thành cái máy giải bài toán kỹ thuật mà không hiểu xã hội mình đang tác động vào. Một bác sĩ có giáo dục khai phóng sẽ bớt thành cái máy kê đơn mà không hiểu thân phận con người phía sau bệnh án. Một nhà kinh doanh có giáo dục khai phóng sẽ bớt thành cái máy tối đa hóa lợi nhuận bất chấp hậu quả. Một công chức có giáo dục khai phóng sẽ bớt thành cái máy đóng dấu. Một nhà nghiên cứu có giáo dục khai phóng sẽ bớt thành người nhặt citation để leo chức danh.

Vấn đề là một nền giáo dục quen sản xuất công cụ sẽ rất ngại loại giáo dục làm con người bớt giống công cụ. Công cụ thì dễ quản lý. Công cụ không hỏi nhiều. Công cụ không cần hiểu hệ. Công cụ không chất vấn người cầm nó. Công cụ chỉ cần được đào tạo đúng thao tác, đúng quy trình, đúng đầu ra. Còn một con người khai phóng thì phiền hơn. Nó hỏi, nó đọc, nó đối chiếu, nó không tin chỉ vì người nói có chức danh, không gật đầu chỉ vì câu đó nằm trong giáo trình, không run trước danh thiếp, không coi hội đồng như điện thờ.

Có lẽ đây mới là lý do khiến vài người bất an.

Họ không sợ giáo dục khai phóng vì nó sai.

Họ sợ vì nếu giáo dục thật sự khai phóng, một số lớp áo học thuật sẽ mỏng đi rất nhanh. Khi người học biết tự định nghĩa, quyền lực của người ban phát định nghĩa giảm xuống. Khi người học biết hỏi “hệ quy chiếu nào?”, những câu trả lời kiểu “xưa nay vẫn thế” bắt đầu lộ ra sự trống rỗng. Khi người học biết phân biệt danh, nghĩa, hệ, mấy cái danh xưng dài ngoằng không còn tự động biến thành chân lý. Khi người học biết tự học, người dạy không còn là cổng duy nhất dẫn tới tri thức.

Tôi thấy rất thú vị khi có người nói giáo dục khai phóng là mơ hồ. Đúng, nó có thể mơ hồ nếu người nói không định nghĩa. Nhưng thay vì định nghĩa lại cho rõ, họ lại dùng chính sự mơ hồ ấy để dọa người khác. Đây là một thao tác khá quen: không hiểu một thứ, không làm rõ nó, rồi kết luận nó nguy hiểm vì nó không rõ. Nói cách khác, biến sự bất lực khái niệm của mình thành lập trường cảnh giác. Rất tiện.

Cũng rất tiết kiệm năng lượng. Khỏi phải đọc thêm, khỏi phải nghĩ thêm, khỏi phải đối thoại thật. Chỉ cần nói: “Cái này không phù hợp với Việt Nam.” Thế là xong.

Tôi không nói cái gì từ bên ngoài cũng hay. Ngược lại, rất nhiều thứ từ bên ngoài khi đi vào Việt Nam phải được tiêu hóa lại. Nhưng tiêu hóa khác với nôn ra ngay khi vừa ngửi thấy mùi lạ. Người có bản lĩnh học thuật không sợ khái niệm ngoại lai. Họ mổ nó ra, xem cấu trúc, so với bối cảnh của mình, giữ cái dùng được, sửa cái lệch, bỏ cái rỗng, tạo ra một khung mới nếu cần. Còn người yếu thì không tiêu hóa. Họ co lại. Rồi gọi sự co lại đó là thận trọng.

Có những người yêu đổi mới giáo dục lắm, miễn là đổi mới nằm trong slide, miễn là đổi mới có đề án, miễn là đổi mới không buộc họ phải đọc lại, học lại, nghĩ lại, miễn là đổi mới không làm sinh viên hỏi ngược, miễn là đổi mới không làm lớp học bớt giống một buổi truyền đạt mệnh lệnh, miễn là đổi mới không đụng vào quyền lực biểu tượng của người đứng bục. Họ yêu đổi mới như yêu hoa giả: đẹp, sạch, để đâu cũng được, và quan trọng nhất là không lớn lên.

Giáo dục khai phóng thì khác. Nó lớn. Nó lan. Nó làm người học mở ra. Nó làm người học nhìn thấy nhiều hệ hơn. Nó làm người học bớt ngoan theo nghĩa rẻ tiền. Nó không biến sinh viên thành kẻ hỗn láo, nhưng nó khiến sinh viên khó bị dắt hơn. Và với một số người, chỉ riêng chuyện đó đã đủ đáng sợ.

Tôi không có vấn đề gì với việc phản biện giáo dục khai phóng. Cứ bóc, cứ hỏi, cứ đặt điều kiện, cứ chỉ ra phần rỗng, phần khẩu hiệu, phần bê nguyên xi từ ngoài vào, phần không khớp với Việt Nam. Nhưng xin hãy làm việc đó như người có học. Đừng mới nghe chữ đã sun lại. Đừng chưa định nghĩa đã sợ. Đừng lấy nỗi sợ của mình làm tiêu chuẩn đánh giá khái niệm. Đừng khoác áo học thuật cho một phản xạ rất bản năng: cái gì lạ thì đẩy ra.

Còn nếu thật sự cần, cứ lôi vài giáo sư giấy xuống đây. Tôi dạy một khóa xem tư duy phản biện là gì. Không phải kiểu học thuộc mấy lỗi ngụy biện cho có vẻ văn minh, cũng không phải kiểu vẽ vài sơ đồ lập luận rồi tưởng đã biết nghĩ. Tư duy phản biện bắt đầu từ năng lực xử lý khái niệm: anh đang nói về cái gì, nó nghĩa là gì, nó đứng trong hệ nào, nó vận hành với điều kiện nào, nó tạo ra hệ quả nào, và anh đang phản đối chính khái niệm đó hay chỉ phản đối cái bóng rơm do anh tự dựng lên vì anh sợ.

Vì nếu không làm nổi mấy việc tối thiểu ấy, thứ bị lộ không phải là sự nguy hiểm của giáo dục khai phóng. Thứ bị lộ là độ hẹp của hệ tiếp nhận. Một khái niệm mới không làm người học thuật tử vong. Nó chỉ làm lộ ai có hệ miễn dịch tư duy quá yếu.

Và có lẽ đó là điều hài hước nhất. Một nền giáo dục nói rất nhiều về nâng cao chất lượng con người, nhưng lại có những người làm giáo dục sợ chính ý tưởng mở rộng con người. Một môi trường học thuật nói rất nhiều về đổi mới, nhưng lại có những người nghe một khái niệm mới là co rúm. Một số người nói rất nhiều về tri thức, nhưng lại cư xử như thể tri thức là cái kho thóc nhà mình, chỉ được xếp theo lối cũ, ai động vào là phạm húy.

Tôi thấy hài hước, nhưng cũng hơi buồn. Vì đáng lẽ người có học phải là người bình tĩnh nhất trước khái niệm mới. Đáng lẽ người làm giáo dục phải là người ít sợ tự do trí tuệ nhất. Đáng lẽ người có học hàm, học vị phải biết rằng không thích một khái niệm thì định nghĩa lại nó, chứ không phải co rúm lại trước nó.

Giáo dục khai phóng có thể đúng, có thể sai, có thể cần sửa, có thể cần Việt hóa, có thể cần một tên gọi khác. Nhưng sợ nó như sợ tà thì không phải là phản biện học thuật. Đó là một dạng hèn khái niệm. Và đáng tiếc là có những thứ, dù khoác thêm bao nhiêu tấm bằng, chức danh, hội đồng, đề án hay diễn văn, vẫn không gột sạch được.

Tư duy bần hàn không biến mất chỉ vì được đóng bìa da. Nó chỉ trông trang trọng hơn khi ngồi trong phòng máy lạnh.

Hay các anh chị sợ từ phóng? Nó làm các anh chị nhạy cảm vì sợ bị giải phóng ngược lần nữa à?

Hay anh chị sợ cách mạng màu? Bọn nhi đồng cấp 3 thì làm được mẹ gì mà phải sợ.

Cái gì đáng thì quan tâm, ba cái chuyện vặt vãnh thế này cũng phải gáy te te lên như gà trống thiến vậy. Thật chẳng biết cái lá gan của các anh chị đâu hết rồi. Cái gì mà dòng máu Lạc Hồng, con rồng cháu tiên ấy nhỉ.

(*) Bài: facebooker Tung Nguyen

reddit.com
u/hungdungnguyen — 6 days ago

Rồ Tàu Annam và trò quen thuộc của chúng nó mỗi khi thiên triều ra uy

Như hình. Tao còn lạ gì cái trò tẩy chay Tàu phù của chúng bay. Bữa nào thằng Bắc Kinh nó cắm đường 9 đoạn, đường 11 đoạn thì giãy. Cái xong dăm bữa nửa tháng... đâu lại hoàn đó!

Đấy, bú sữa Tàu cho lắm vào! Ôm chân đám giai tân bóng chó và nữ lưu đặc sản hắc xì dầu cho tộ vào! Ông Mỹ kia nói có sai đâu, cái dải đất con lươn này nó là thuộc địa của thằng Tàu! Mai mốt cái xứ Annam này có mệnh hệ gì, chúng tao cũng chẳng cần hạng cẩu nô như mấy thằng mấy con nhả nhớt rồ Tàu Đại Lỗ. Bởi, chúng bay tự nguyện chạy hết sang Tàu, và cam tâm làm chó cho Tàu rồi!

u/hungdungnguyen — 8 days ago

SIÊU BỘ GỌI TÊN BỘ "CÔN-AN"!

Công an ở Ta ngày nay đang ở đầu của sự phát triển. Có thể nói công an là vua của các nghề. Không chỉ có tiền, có quyền - nói đến công an là quan nể, dân sợ. Thế mới đáng mặt công an!

Mình có thằng cháu họ, 2k4, quê Lào Cai. Bố nó từng làm lính biên phòng, giờ về giải ngũ. Ngày còn nhỏ, lên đơn vị bố thấy các chú áo xanh công an, thèm lắm, thế là đăng ký thi vào trường. Cả nhà khuyên nó cỡ nào cũng không lay chuyển đặng, nó bảo làm công an nhiều tiền lắm, sướng. Ai chẳng biết mấy ông lắm tiền toàn cấp chỉ huy, chứ lính tráng có mỗi cái dây quần, tiền đâu ra. Có ai mà dè cu cháu nó thi đậu trường công an thật, rồi ra trường làm cảnh sát giao thông. Mỗi bữa không ít thì nhiều, xử vài chục đứa vi phạm. Trầy da tróc vảy như thế mà nó cũng chịu được. Rồi mấy ông bà trong họ, biết nó làm giao thông nên nhờ nó đưa các cháu trong nhà đi thi đi thố, mỗi khi có dịp. Báo đăng đầy nhóc, giật tít "cảnh sát tận tình tới nhà thí sinh đưa đi thi" - thế cũng bày đặt đăng bài. Mỗi lần họp họ, thấy mặt nó là cả họ như được mùa, nói bảo sao cái gia đình nhà nó phúc lớn thế. Vâng, phúc lắm các anh chị em ạ, phúc tới nỗi chòm xóm gặp nó là né như né hủi không bằng. Bố mẹ nó ra chợ là y như rằng mấy bà bán cá mát mẻ nguyên buổi. Bảo nó, sao mày không bỏ quách cái nghề ấy đi, về làm ruộng với bố mẹ, nó bảo thà làm giao thông đứng đường, mỗi năm thu một tý, vài năm xây cho bố mẹ cái nhà, chứ đi làm cơ động hay bắt bớ con không chịu được. Mà bỏ nghề cũng không được chú ạ, con về làm ruộng chòm xóm nó cười cho. Nói chung, là dở khóc dở cười

Hôm nay vừa nghe tin, báo nói các ông công an lại chuẩn bị quản lý luôn cả đường không. Nghĩ lại, sao thằng ấy lại không được phân làm cảnh sát đường không thay vì đường bộ. Làm ở đường không sướng còn hơn đường bộ nhiều, ngày ngày ở trên cái tháp cao tầng, rồi ngồi bảng bộ đàm chỉ huy máy bay. Sướng còn hơn cả văn phòng. Đấy, sướng cho mày đấy cháu giai của chú à

(*) GHI CHÚ: Tình huống trong đoạn văn phía trên là giả định. Người dẫn tin và viết bài không có bất kỳ liên hệ nào với những trường hợp có gia đình công tác trong ngành "côn-an"

u/hungdungnguyen — 9 days ago

VTV4: Việt Nam có tự do báo chí. Khán giả: “Haha”

(Luật Khoa tạp chí) - Theo dòng sự kiện: Ngày 24/6, Ban Truyền hình Đối ngoại VTV4 (thuộc Đài Truyền hình Việt Nam) đăng bản tin có tên “Đâu là mục đích phía sau những luận điệu xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam?” lên Facebook.

  • Nội dung bản tin nêu rằng một số trang tin “thiếu thiện chí” dựa theo Bảng Chỉ số Tự do Báo chí Toàn cầu của tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) để “tổ chức phản động”, “bôi nhọ báo chí Việt Nam”.
  • Trả lời phỏng vấn của VTV4, PGS. TS Đỗ Cảnh Thìn – phó Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, Đại học Quốc gia Hà Nội – cho rằng hoạt động về tự do báo chí, tự do ngôn luận vẫn đang “ổn định”, “tồn tại”  và “được người dân chấp nhận”. Đồng thời đang góp phần “rất tích cực” trong phát triển kinh tế – xã hội.
  • Tính đến 9 giờ ngày 26/6, bản tin này nhận về tổng cộng hơn 3.400 lượt tương tác, trong đó có hơn 2.300 lượt “haha”. Người dùng cũng không thể đọc được hơn 200 bình luận bên dưới bài này.

Bên kia nói gì? Trước đó, ngày 30/4, theo ông Cédric Alviani – giám đốc Văn phòng Châu Á – Thái Bình Dương của RSF từng trả lời Luật Khoa rằng “Bảng Chỉ số Tự do Báo chí của chúng tôi dựa trên ý kiến [khảo sát] của người bản xứ và những người trực tiếp trải nghiệm nền báo chí đó hàng ngày, nên tôi dám khẳng định rằng nó đầy đủ và xác đáng hơn nhiều so với tuyên bố của chính quyền Việt Nam”.

Dư luận nói gì? Trên mạng xã hội Threads, một danh khoản có tên “minly_miu” cũng chia sẻ rằng “VTV nên có những hành động thiết thực hơn để chứng minh cho người dân thấy là Việt Nam vẫn có tự do báo chí, báo chí thật sự khách quan, bảo vệ người yếu thế.” Sau hơn một ngày, bài này nhận về hơn 5.600 lượt thích và hơn 271 bình luận.

  • Một danh khoản có tên “ngo_chien.wawaweewa” cũng bình luận ngay dưới bài viết: “buồn cười lắm, mở fb liên tục thấy nhà đài đăng bài than thở […]. Thế mà chả biết cái khảo sát ý kiến người dân xăng e10 không biết bay đâu”. Bình luận này nhận về hơn 780 lượt thích. Ngày 27/5, VnExpress đã bất ngờ ẩn kết quả khảo sát dư luận về mức độ sẵn sàng chuyển sang dùng xăng E10. Trước đó, khảo sát này nhận về hơn 49.000 phiếu bầu, trong đó có 93% người không muốn chuyển sang xăng E10.
  • Một bình luận khác cũng nhận về hơn 500 lượt thích do danh khoản có tên “mminhlee” chia sẻ: “Có 30 triệu chưa mà mày dám đăng hả?”. Con số 30 triệu này có thể bắt nguồn từ Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân của Bộ Công an. Theo đó, tại Điều 8, Bộ Công an đề xuất phạt từ 20 triệu – 30 triệu nếu làm ra thông tin có nội dung thông tin bịa đặt, sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác (điểm a Khoản 2 Điều 8 của dự thảo). Tuy nhiên, đến nay, Bộ Công an đã điều chỉnh mức phạt đối với hành vi trên xuống còn từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, theo Điều 7 và 8 của dự thảo mới nhất.

 

Bối cảnh: Việt Nam tăng 1,5 điểm lên 21,15 (thang điểm 100) nhưng tụt một hạng xuống vị trí 174/180 trong Bảng Chỉ số Tự do Báo chí Toàn cầu năm 2026 được RSF công bố sáng 30/4 trong một cuộc họp báo ở Đài Bắc (Đài Loan).

  • Với kết quả này, Việt Nam tiếp tục truyền thống nằm trong nhóm đội sổ cùng với Eritrea (180), Bắc Triều Tiên (179), Trung Quốc (178), Iran (177), Saudi Arabia (176) và Afghanistan (175).
  • Tổ chức phi chính phủ của Pháp này viết trong báo cáo về Việt Nam rằng “báo chí truyền thống của Việt Nam bị một đảng chính trị kiểm soát chặt chẽ. Nhà báo độc lập và blogger thường xuyên bị bỏ tù, biến Việt Nam trở thành một trong những nhà tù lớn nhất dành cho nhà báo”.
  • Mặc dù được công bố năm 2026, đây là chỉ số đánh giá năm 2025, nằm trong chương trình xếp hạng thường niên do RSF thực hiện từ năm 2002 tới nay.

Liên quan:  Cùng ngày 24/6, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) cho biết trong sáu tháng đầu năm 2026, Meta đã chặn/gỡ 63 tài khoản, 2.147 nội dung theo yêu cầu của Việt Nam; Tiktok gỡ 440 tài khoản gồm 115.000 video, thời gian gỡ nhanh nhất chỉ 3 tiếng; YouTube gỡ 18 kênh gồm 13.000 video, tương đương 165 triệu lượt xem, tăng gấp đôi năm 2025; và có tới 94% yêu cầu gỡ được Meta, YouTube, Tiktok tuân thủ.

Ngoài ra, từ năm 2026, Threads cũng sẽ gỡ bài theo yêu cầu như Facebook.

Toàn cảnh: Dưới chế độ một đảng, báo chí ở Việt Nam bị bóp nghẹt sau năm 1954 ở miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam. Không gian báo chí cởi mở hơn trong thập niên 1990 và 2000 nhưng kể từ giữa thập niên 2010 thì nhanh chóng thụt lùi. 

  • Báo chí tư nhân bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, mặc dù vẫn có những tờ tư nhân núp bóng nhà nước như VnExpressZingDân TríKênh 14CafeF, v.v.
  • Các báo độc lập bị đàn áp nặng nề. Ba lãnh đạo chủ chốt của Hội Nhà báo Độc lập bị kết án từ 11 – 15 năm tù hồi năm 2020; nhà báo Phạm Đoan Trang của Luật Khoa cũng đang thụ án 9 năm tù cùng năm; và mới đây nhất, nhà báo Trương Huy San cũng dính án 30 tháng tù.
  • Bảng chỉ số năm nay của RSF cũng thể hiện xu hướng thụt lùi của tình hình tự do báo chí thế giới nói chung. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tổ chức này công bố bộ chỉ số tự do báo chí, hơn một nửa dân số thế giới sống ở những nước thuộc nhóm “khó khăn” hoặc “rất nghiêm trọng”, và chỉ có 1% thuộc nhóm “tốt”. Đáng chú ý, Hoa Kỳ rớt tới gần 3 điểm (65,5 xuống 62,6) và 7 bậc (57 xuống 64/180) trong bảng xếp hạng năm nay so với năm ngoái.
u/hungdungnguyen — 10 days ago

Cuồng cộng...

Như hình. Con thớt trong "thành phố sợi chỉ" mà nhóm Nói Hay Chết dẫn về là tư duy điển hình của mấy con cuồng cộng quái thai

Các cháu học tập theo gương của mấy "bác" đáng tuổi ông bà cố, nhìn đâu cũng thấy âm mưu, dòm chỗ nào cũng dăm bảy người rắp tâm hại mình, hại đảng. Rồi các cháu tin rằng nhờ vào bộ pháp chế của đảng cầm quyền cùng thang đo pháp luật của quốc gia là những "con sâu con mọt" ấy sẽ bị loại bỏ.

Thực tế những gì đang xảy ra với dải đất khổ nạn này hoàn toàn đi ngược với những gì mà các cháu nghé đỏ nhà ta nghĩ. Chưa đầy một nhiệm kỳ bộ Chính trị, ban bí thư, rồi đủ ban bệ chấp hành chấp tỏi khác, mà nội bộ ở thượng tầng vẫn chưa yên. Súng dài vốn dĩ không có người đủ tài và lực để chống lưng, nên phải vẽ ra đủ thứ nguy và cơ cốt để cho súng ngắn quy hàng. Trong khi súng ngắn vì xài tiền quá hao, nên không có cách nào khác ngoài vẽ ra những thửa bánh khổng lồ, cùng những đề xuất từ trên trời rơi xuống, cốt để bào từng đồng lương còm cuối cùng của dân đen. Và cũng nhờ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của cụ lớn A1, mà cái chế độ đương tiền đang dần tự bóc trần bản chất thực sự của nó: Đó là một chế độ tư bản chuyên chế, không có nền tảng vững vàng hay tính nhân bản nào để xứng với bốn chữ "xã hội chủ nghĩa" mà những kẻ tiền bối của những con người ấy từng mang về và đặt ra. Cái trò "chống tham nhũng", "chống diễn biến hoà bình" cũng chỉ là trò lừa bịp, đúng theo nghĩa đen. Đã có ai dám tự hỏi những người bị "dính chưởng" vì "những điều đảng viên không được làm" rồi "tự diễn biến tự chuyển hoá", rằng họ có thực sự vi phạm vào những điều cấm kỵ ấy, hay đó chỉ là những đòn thanh trừng vì mối mần ăn hỏng? Nói đến những "chống diễn biến hoà bình", "chống thế lực thù địch", hãy nhìn sang nước Đức, đó là tập hợp của những con người hoạt đầu và tham lam, vì không có được bất kỳ một vị trí nào xứng đáng trong những ngôi đền cửu đỉnh, mà sẵn sàng bỏ ra hải ngoại, dựa vào hoàng kỳ quẻ càn, mà chẳng có một ly kiến thức nào về nó, và cũng chẳng có liên hệ gì tới những con người từng phục vụ dưới lá cờ ấy...

Vì những lẽ ấy, để đặt hy vọng cho những điều hão huyền mà con thớt cuồng cộng trong hình mơ tưởng, chỉ là những ảo vọng điên rồ của những con người đã mất hết lý trí, và đặt cược niềm tin vào những con người, những tổ chức vốn đã đè đầu cưỡi cổ chính mình, và bắt phải nhận cái ơn mưa móc thối khắm từ đó

u/hungdungnguyen — 11 days ago

Đại học Sydney cấm hợp tác với các đối tác từ Iran, Nga, Belarus và Bắc Hàn

SMH, SYDNEY - Đại học Sydney (USyd) vừa ban hành quy định cấm nhân viên hợp tác với các tổ chức và cá nhân tại một số quốc gia bị Úc xem là có rủi ro cao, sau khuyến cáo mới từ Chính phủ liên bang về an ninh quốc gia.

 

https://preview.redd.it/xxub3xwkfd9h1.png?width=1488&format=png&auto=webp&s=2cb174a2a17c2bb8ce9ff6345422263e0b0cc670

Trong một thư điện tử gửi nhân viên hôm thứ Tư (25.6), mà báo chí Úc thu thập được, viện đại học lâu đời nhất nước này cho biết hướng dẫn nội bộ đã được cập nhật nhằm phản ánh khuyến cáo mới của chính phủ, các nghĩa vụ pháp lý của trường theo luật an ninh quốc gia, cũng như bối cảnh địa chính trị hiện nay.

 

Theo nội dung thư, nhân viên của trường hiện không được hợp tác với các đồng nghiệp hoặc đối tác có liên hệ với chính phủ Iran, Nga, Belarus và Bắc Hàn, trừ khi được chấp thuận trong những trường hợp đặc biệt bởi trưởng khoa liên quan và bộ phận phụ trách tuân thủ an ninh quốc gia.

 

Lệnh cấm này được áp dụng trên phạm vi rộng, bao gồm hợp tác nghiên cứu, tư vấn kỹ thuật, quyền truy cập dữ liệu hoặc cơ sở vật chất của trường, đồng tác giả trong các công trình xuất bản, đi lại, các thỏa thuận giáo dục, tài trợ, quà tặng và quyên góp.

 

Phó hiệu trưởng phụ trách nghiên cứu Mike Ryan viết trong thư rằng nếu có lý do thuyết phục để tiếp tục một hoạt động nào đó, nhân viên phải nộp giải trình bằng văn bản, nêu rõ hoạt động được đề xuất, lý do cần thiết và cách thức hoạt động này phù hợp với lợi ích quốc gia của Úc.

 

Cũng theo đại diện nhà trường, hợp tác quốc tế là điều “vô cùng quan trọng”, nhưng cũng nhấn mạnh rằng nhân viên cần làm việc trong khuôn khổ các quy định của Chính phủ Úc.

 

Trong một tuyên bố, Đại học Sydney cho biết trường không có quan hệ đối tác cấp thể chế với Iran, Nga, Belarus hay Bắc Hàn, và đã cập nhật hướng dẫn nhằm làm rõ rằng các hoạt động trong và với các quốc gia này không được phép tiến hành, ngoại trừ một số trường hợp cụ thể có thể được trường phê duyệt.

 

Hội đồng Nghiên cứu Úc cho biết Bộ trưởng Giáo dục Jason Clare đã chặn 13 đề xuất nghiên cứu khác nhau của các trường đại học, với lý do liên quan đến an ninh quốc gia, quốc phòng hoặc quan hệ quốc tế của Úc. Một phát ngôn nhân của ông Clare cho biết, các quyết định này dựa trên khuyến nghị từ Tổ chức Tình báo An ninh Úc (ASIO), Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng.

 

Chính phủ Úc hiện khuyến cáo công dân không nên đi đến cả bốn quốc gia nói trên. Quan hệ ngoại giao giữa Canberra và Tehran cũng đang ở mức thấp sau cuộc xung đột gần đây giữa Iran và Hoa Kỳ, cũng như sau vụ Úc trục xuất các đại diện của Tehran tại Canberra năm ngoái. Chính phủ của Thủ tướng Anthony Albanese từng tuyên bố Đại sứ Ahmad Sadeghi và một số quan chức Iran là những người không được hoan nghênh (persona non grata), sau khi xác định Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đứng sau các vụ tấn công bài Do Thái tại Úc.

 

Úc cũng đang áp đặt nhiều biện pháp trừng phạt đối với Nga và các quan chức nước này. Tháng trước, Đại sứ Nga Mikhail Petrakov bị Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc triệu tập khiển trách liên quan đến các cuộc tấn công nhằm vào Kyiv.

 

Đối với Belarus, Úc đã đình chỉ hợp tác do Minsk ủng hộ cuộc chiến của Nga tại Ukraine. Trang thông tin của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc về Belarus nêu rằng chính phủ liên bang đã yêu cầu các chính quyền tiểu bang, vùng lãnh thổ, địa phương và các đại học công lập tạm dừng những hợp tác song phương hiện có với chính phủ Belarus, bao gồm cả các thực thể chính quyền cấp dưới, đồng thời xem xét lại các hợp tác mới.

 

Với Bắc Hàn, Úc đã áp đặt các lệnh trừng phạt từ năm 2006, trong đó có những hạn chế về xuất khẩu và hợp tác thương mại.

 

Ông Ryan nói trong thư rằng chỉ thị mới xuất phát từ thay đổi trong chính sách đối ngoại của Úc đối với các chính phủ nói trên, đồng thời thừa nhận quyết định này có thể ảnh hưởng đến các đồng nghiệp và cộng tác viên theo nhiều cách khác nhau.

 

Nhân viên đang có quan hệ hợp tác hiện hữu với các nước này được yêu cầu thông báo ngay cho trưởng khoa và ban điều hành của trường.

 

Quy định mới này khác với cách tiếp cận đối với các hợp tác nghiên cứu với Trung Quốc, trong đó một phần được tài trợ thông qua Quỹ Khoa học và Nghiên cứu Úc–Trung của Bộ Công nghiệp, Khoa học và Tài nguyên.

 

Theo thư gửi nhân viên, khuyến cáo hiện nay từ Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc là các thỏa thuận đang tiến hành có thể tiếp tục nếu không thể tạm dừng một cách hợp lý, với điều kiện chúng phải được hoàn tất trong thời gian sớm nhất có thể.

reddit.com
u/hungdungnguyen — 11 days ago

"Dân người ta biết hết!"

Công An Đà Nẵng làm việc với hơn 100 chủ tài khoản tương tác với trang Phản động. Tương tác ở đây là gì? Là like, bình luận, share, thậm chí là một dấu chấm.

Khi họ công bố tin đó lên trang chính thức thì lại tiếp tục là mặt cười và bình luận coi khinh từ dân chúng. Tôi tin chắc rồi với nghiệp vụ của đội an ninh mạng và anh em dư luận viên thì vấn đề này mấy anh xử lý sớm thôi. Rồi sẽ không còn dân nào cười nữa, trên mạng lại đầy màu hồng.

Anh em tuyên truyền viên người đỏ chính quy dạo này thì liên tục lên bài: phản bác xyz, cách mạng màu. Ê, không thấy chán hả? Toàn những lời khen ngợi, toàn những tài khoản hăng hái khẳng định rằng nhân dân đang tuyệt đối đồng thuận mấy anh mới vừa lòng sao? Mấy anh tin rằng chỉ cần như vậy thì xã hội ổn định, lòng dân yên ổn tin tưởng vào đảng và nhà nước sao?

Tôi hiểu đó là quy luật của mọi mô hình tuyên truyền kiểm soát của toàn trị. Mục tiêu cuối cùng không phải là làm cho người ta nghĩ rằng ai cũng im nên mình tốt nhất cũng nên im. Vậy là tất cả đều im. Cũ kỹ quá rồi, người dân VN bây giờ im lặng là vì sợ bị cô lập, sợ bị phạt chứ mấy anh trong mắt dân thì phải tệ hơn nước cống kinh Nhiêu Lộc.

Các anh muốn tất cả mọi người dân đều nghĩ rằng không còn lựa chọn nào khác, phản đối là vô ích nhưng có vẻ như nó phản tác dụng rồi.

Nếu người dân thực sự tin tưởng đảng như tuyên giáo nói 99% Dân đồng thuận này kia thì không ai phải đi đến từng cái like, làm đủ trò để bắt dân sợ hãi. Trong thâm tâm các anh biết rõ mình trong mắt dân như thế nào mà, làm vậy chi?

Niềm tin là thứ tự nhiên sinh ra từ kết quả thực tế. Các anh phải làm sao đó mà công lý phải hiện hữu, minh bạch được việc của mình và rồi dân tự khắc sẽ tôn trọng thôi. Làm cái nào là dân nằm chịu cái đó thì dân nào mà ưa cho nổi.

Để kế các anh nghe, khi tôi đọc về sự sụp đổ của vài chế độ thì tôi thấy đều có sai lầm giống nhau. Và các anh đang y chang. Kiểm soát được thông tin là kiểm soát được nhận thức dân sao? Ấu trĩ và hạn hẹp. Mấy anh có thể xóa một bình luận hoặc bắt ép dân lên phường, nhưng dân thù vẫn cứ thù, bất chấp là âm ỉ. Với lại thế này, là con người mấy anh nhốt 1, 100 thì được. Chớ 1000, 1 triệu thì phạt làm sao? Lúc đó lãnh đạo chạy hết rồi là công an chỉ có chịu trận.

Đầy những cuộc trò chuyện ở quán cà phê, trong gia đình, nơi công sở, trên những chuyến xe đường dài người dân gẫn đang nói với nhau đó chớ có hết được đâu, suy nghĩ trong đầu họ còn thì họ sẽ tìm cách để nói.

Tin tôi đi, các anh chứ bắt im lặng càng nhiều thì sự hoài nghi và khinh ghét các anh trong họ ngày càng lớn. Đó là xu hướng tất yếu mà độc tài toàn trị sẽ phải tới, nó là kết quả đã được báo trước, một quy trình mà không nền toàn trị nào có thể thoát ra được.

Những cái mặt cười đang làm mấy anh khó chịu nó vô tri lắm, nhưng nó đang phản ánh khoảng cách giữa tuyên truyền và cảm nhận thật của xã hội. Không tin anh coi lại mấy vụ cán bộ đồng chí của mấy anh vừa rồi đi gặp bác lê nin đi. Coi dân có chia buồn không? Hay họ khui bia?

Rồi các anh sẽ dọn sạch phần bình luận và mọi thứ lại tốt đẹp vinh quang trên MXH thôi. Nhưng dân mình đó mà. Ngàn năm bị đồng hóa còn không ăn thua, mấy anh chưa tới trăm năm thì thấm thía gì. Cứ tự tin ngạo nghễ mà đợi. Vậy đi nha.

Nắng rồi sẽ lên

Nhắc nhau nghe rằng:

Người Việt thương người Việt

(*) Bài: fanpage Bàn Tròn Chính Trị Việt Nam. Tiêu đề do người dẫn nguồn đặt

reddit.com
u/hungdungnguyen — 12 days ago

Chuyện thật như bịa: Việt Cộng ‘tiếp đạn’ cho Việt Tân (Phần I)

Người Việt - Cách nay vài ngày, hôm 16 Tháng Sáu, 2026, tại Strasbourg (Pháp), Nghị Viện Châu Âu đã thông qua nghị quyết thứ hai về việc đàn áp xuyên quốc gia, thúc giục các thể chế và chính phủ Liên Minh Châu Âu hành động để chấm dứt tình trạng này.

Một cuộc họp của Ủy Ban Châu Âu, Tháng Giêng 2025. (Hình minh họa: Martin Bertrand/Hans Lucas/Hans Lucas via AFP)

Đàn áp xuyên quốc gia là những biện pháp mà một quốc gia dùng để đe dọa những người chỉ trích chính phủ của quốc gia đó, đặc biệt là những công dân hoặc cá nhân từng là công dân của quốc gia đó đang ở bên ngoài biên giới và vượt ra ngoài quyền tài phán lãnh thổ của quốc gia thực hiện hành vi đàn áp.

Đàn áp xuyên quốc gia bao gồm cả quấy rối trực tuyến, giám sát, từ chối cung cấp dịch vụ lãnh sự, quấy rối thân nhân ở quê nhà, và yêu cầu dẫn độ mang tính lạm dụng nhằm gây sợ hãi trên diện rộng. Tồi tệ nhất trong đàn áp xuyên quốc gia là tổ chức giết người, tấn công và bắt cóc do các đặc vụ hoặc tay sai của chính phủ thực hiện.

Cuối năm ngoái (Tháng Mười Một, 2025), Nghị Viện Châu Âu từng thông qua nghị quyết đầu tiên về đàn áp xuyên quốc gia, xác định mười quốc gia đã thực hiện loại hành vi này (TNR): Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Tajikistan, Nga, Ai Cập, Cambodia, Turkmenistan, Uzbekistan, Iran, Belarus.

Trong hai nghị quyết vừa đề cập, Nghị Viện Châu Âu vạch ra một lộ trình để Ủy Ban Châu Âu và chính phủ các quốc gia thành viên EU xem xét. Nếu được tán thành, hậu quả cụ thể mà một quốc gia hoặc tổ chức, cá nhân bị xem là có liên quan phải đối mặt khi bị xác định là TNR sẽ là:

Trừng phạt cá nhân bằng cách đóng băng tài sản, cấm nhập cảnh: Nghị quyết kêu gọi Ủy Ban Châu Âu và Cơ Quan Hành Động Đối Ngoại Châu Âu (European External Action Service – EEAS) bảo đảm những cá nhân và tổ chức tham gia TNR phải bị đưa vào danh sách cần áp dụng cơ chế trừng phạt nhân quyền toàn cầu của EU (EU Magnitsky Act) và dùng TNR làm căn cứ để chỉ định trừng phạt theo cơ chế sắp tới của EU về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Đây là công cụ trực tiếp nhắm vào những cá nhân cụ thể – những viên chức dính líu đến TNR.

Trục xuất ngoại giao, cấm nhập cảnh: Các quốc gia thành viên của EU được kêu gọi tiến hành thẩm định xem các viên chức ngoại giao, từ nhân viên, phiên dịch viên đến những cá nhân vận động hành lang có liên quan đến TNR hay không trước khi công nhận. Đồng thời áp đặt các biện pháp như trục xuất, cấm nhập cảnh hoặc đình chỉ công nhận ngoại giao nếu đương sự có dính líu đến TNR. Họ còn được thúc giục rà soát, thu hồi giấy phép cư trú liên quan đến đầu tư của những cá nhân có liên hệ với các chế độ hoặc mạng lưới được xác định là thực hiện TNR.

Ủy Ban Châu Âu và EEAS được kêu gọi đưa các điều kiện nhằm ngăn chặn việc lạm dụng hợp tác đa phương và song phương trong các vấn đề hình sự liên quan đến TNR vào các hiệp định và khuôn khổ hợp tác quốc tế, bao gồm cả khả năng đình chỉ việc thi hành. Đồng thời, cần xem xét một cách có hệ thống các rủi ro TNR khi chuẩn bị các thỏa thuận tài trợ, hợp tác và đối tác với các quốc gia ngoài EU. Ủy Ban Châu Âu được kêu gọi đưa TNR vào báo cáo pháp quyền và báo cáo mở rộng của cơ quan này. Đồng thời, ủy ban và EEAS được kêu gọi công bố báo cáo thường niên về TNR ảnh hưởng đến EU, đánh giá xu hướng, mô hình và các rủi ro mới nổi. Đây là cơ chế giám sát liên tục, không phải một lần.

Ủy Ban Châu Âu cũng được kêu gọi xem xét đình chỉ hợp tác trong các trường hợp có dấu hiệu đáng lo ngại về thủ tục tố tụng công bằng hoặc khi sử dụng bản án vắng mặt, từ chối công nhận hoặc hỗ trợ các yêu cầu xuất phát từ các quốc gia thủ phạm cho đến khi độc lập tư pháp được khôi phục. Đó là chưa kể các cơ quan thực thi pháp luật và tư pháp tại Châu Âu được kêu gọi điều tra và truy tố các hành vi TNR đạt đến mức cấu thành tội ác chống nhân loại theo Quy Chế Rome. Đây là mức độ cao nhất có thể dẫn đến việc Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (ICC) nhập cuộc.

Ngoài việc đề ra những biện pháp nhằm trừng phạt các chính phủ, những viên chức dính líu đến TNR, các nghị quyết liên quan đến đàn áp xuyên quốc gia của Nghị Viện Châu Âu còn nhắm đến sự dính líu tới TNR của doanh giới. Các quốc gia thành viên của EU được kêu gọi thiết lập trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối với cá nhân và tổ chức cố ý tiếp tay hoặc trục lợi từ các hành vi TNR, đồng thời kêu gọi thực thi hiệu quả nghĩa vụ thẩm định nhân quyền của doanh nghiệp. Doanh nghiệp Châu Âu sẽ phải hết sức thận trọng vì có thể phải đối mặt với hậu quả nặng nề nếu bị xác định là hợp tác với các tổ chức bị nghi ngờ có liên quan đến TNR. Nghị Viện Châu Âu kêu gọi các quốc gia thành viên bảo đảm rằng, việc thực hiện hành vi thay mặt cho một thế lực ngoại quốc sẽ bị xem là tình tiết tăng nặng khi tuyên án đối với các tội danh liên quan.

Nếu ghi nhớ thời điểm Nghị Viện Châu Âu nâng TNR thành vấn đề mà Liên Minh Châu Âu cần quan tâm đặc biệt, cũng như cách thức cơ quan này xác định thế nào là TNR, sang phần sau, quý vị có thể dễ dàng nhận ra, Việt Cộng đã “tiếp đạn” cho Việt Tân thế nào… (còn tiếp)

reddit.com
u/hungdungnguyen — 13 days ago

Giải ảo huyền thoại Trần Đức Thảo: Tiến trình lịch sử của một trí thức

https://preview.redd.it/h1ogb9hbox8h1.png?width=642&format=png&auto=webp&s=7249e20a87a6749ac557721f94481f83b0eb3b0f

Trong lịch sử học thuật thế kỷ 20 ở Việt Nam, việc đánh giá vai trò của Trần Đức Thảo thường bị chi phối bởi các tự sự chính trị mang tính huyền thoại hóa hoặc tâm lý tự hào dân tộc thái quá, dẫn đến sự định danh thiếu chính xác về khái niệm “triết gia”. Dưới lăng kính khảo sát hàn lâm nghiêm ngặt về lịch sử ý niệm và dựa trên tiến trình thời gian thực tế từ đầu thập niên 1940 tại Pháp đến tận những năm cuối thập niên 1970 tại Việt Nam, dễ dàng nhận ra sự thật lịch sử rõ ràng rằng Trần Đức Thảo chưa thể là một triết gia.

Xét về bản chất cốt lõi của lao động tri thức, ông là một học giả có năng lực ngôn ngữ và giải mã văn bản xuất chúng, một nhà bình luận lý thuyết nhạy bén trước các trào lưu mới, nhưng vĩnh viễn dừng lại trước ngưỡng cửa của sự bắt đầu kiến tạo hệ thống hay trường phái tư tưởng riêng. Các di sản của ông xuyên suốt cuộc đời thực chất là một chuỗi những sự lắp ghép cơ học bị bỏ dở. Sự dang dở này không chỉ xuất phát từ những hạn chế nội tại trong phương pháp luận mà còn chịu sự chi phối nặng nề của hoàn cảnh lịch sử khốc liệt và sự kiểm tỏa của các cấu trúc quyền lực chính trị mà ông mong muốn được tham gia xây dựng.

Lằn ranh giữa nhà nghiên cứu và triết gia

Để phân định rạch ròi lằn ranh học thuật giữa một người nghiên cứu triết học và một triết gia thực thụ, chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng giai đoạn nền tảng của ông tại kinh đô ánh sáng Paris. Trong truyền thống học thuật phương Tây, triết gia là người tự tay kiến tạo nên một hệ hình nhận thức nguyên bản, độc lập và có tính hệ thống logic chặt chẽ để giải thích thế giới. Ngược lại, một nhà nghiên cứu làm nhiệm vụ đọc, dịch thuật, tháo dỡ và phê phán cấu trúc tư tưởng của người khác.

Năm 1943, ông đỗ đồng thủ khoa kỳ thi Thạc sĩ triết học cấp quốc gia Pháp (Agrégation de philosophie). Hệ thống Agrégation của Pháp là một chứng chỉ khắt khe nhằm xác nhận năng lực học thuật cao cấp và kỹ năng phân tích văn bản ở mức độ chuyên sâu, hoàn toàn không phải là bằng chứng của một sự phôi thai tư tưởng mới mẻ nào. Năng lực giải phẫu văn bản này được định hình trực tiếp từ giai đoạn ông thực hiện bản luận văn thạc sĩ mang tựa đề La méthode phénoménologique de Husserl (Phương pháp hiện tượng học của Husserl) dưới sự hướng dẫn chuyên môn của hai học giả nổi tiếng thời bấy giờ là Émile Bréhier và Jean Cavaillès.

Để thấy được tầm vóc của năng lực giải mã này, cần nhìn nhận một thực tế lịch sử: cho đến tận năm 2018, nền học thuật về phương pháp luận trên toàn cầu hầu như chưa có một tác giả người Việt nào công bố công trình nghiên cứu sâu về phương pháp Hiện tượng học. Ngoại trừ di sản xuất chúng của Bùi Giáng — người đã chuyển ngữ thành công tư tưởng của Martin Heidegger sang tiếng Việt — và Trần Đức Thảo với luận văn thạc sĩ về Husserl bằng tiếng Pháp, các nỗ lực dịch thuật Hiện tượng học khác phần lớn đều rơi vào trạng thái tối nghĩa, minh chứng cho việc người dịch chưa thực sự thông suốt mạch ngầm siêu hình học của bộ môn này.

Tuy nhiên, việc phân tích thành công phương pháp hiện tượng học của Husserl trong luận văn thạc sĩ năm 1943 chỉ xác lập vị thế của ông như một nhà bình luận giỏi. Ông mượn hệ thống vật liệu tư tưởng của người khác làm đối tượng suy tưởng, dùng công cụ của người thầy để mổ xẻ, thay vì tự đào sâu vào bản thể luận để kiến tạo một nguyên lý của riêng mình.

Bước ngoặt lịch sử tạo nên danh tiếng học thuật rực rỡ của Trần Đức Thảo diễn ra vào năm 1944, khi ông có cơ hội tiếp cận được kho lưu trữ vô giá chưa từng xuất bản của Edmund Husserl tại Đại học Louvain, Bỉ. Trần Đức Thảo có mặt đúng lúc, hội tụ đủ năng lực đọc hiểu tiếng Đức hàn lâm để trực tiếp chạm tay vào kho dữ liệu khổng lồ này, từ đó đứng ra tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề tại Đại học Sư phạm Paris (École Normale Supérieure – ENS).

Để hiểu đúng tầm vóc của các buổi hội thảo này, cần đặt chúng vào bối cảnh triết lý giáo dục đặc thù của ENS. Dưới góc nhìn của hệ thống đại học hiện đại mang tính định lượng với văn hóa “xuất bản hoặc bị đào thải” (publish or perish), người ta dễ lầm tưởng việc thuyết trình hội thảo hay công bố bài báo khoa học là những chỉ tiêu bắt buộc để nghiên cứu sinh được tốt nghiệp. Tuy nhiên, ENS chưa bao giờ vận hành theo lối tư duy đó.

Trong thập niên 1940, ENS là một trường lớn (Grande École) với mục tiêu tối thượng là rèn luyện trí thức tinh hoa để vượt qua kỳ thi Agrégation vô cùng khốc liệt. Hệ thống không đánh giá tài năng của sinh viên ENS qua việc đếm số lượng bài báo, mà qua sự uyên bác và khả năng tư duy đột phá. Tinh thần khám phá hàn lâm thuần túy này vẫn được duy trì đến tận ngày nay, khi một tấm bằng của ENS luôn đòi hỏi nền tảng tri thức khổng lồ thay vì áp đặt các con số xuất bản máy móc.

Do đó, các buổi hội thảo do Trần Đức Thảo tổ chức hoàn toàn không mang tính chất đối phó học vụ hay thỏa mãn điều kiện lấy điểm, mà là những diễn đàn chia sẻ tri thức tinh hoa mang tính tự nguyện. Khi giới tinh hoa học thuật Pháp thời bấy giờ ngồi chật kín các buổi hội thảo đó, thực chất là để nghe ông thông dịch và bình luận về tư tưởng nguyên bản của Husserl. Uy tín học thuật của ông thời điểm đó được xây dựng vững chắc dựa trên sự bất đối xứng về thông tin, khi ông đóng vai trò là một trong số ít những người nắm giữ độc quyền chìa khóa giải mã nguồn tài liệu gốc, chứ không phải tư cách của một nhà kiến tạo hệ thống.

Không khí thời đại và bế tắc của phương pháp hiện tượng học Husserl

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950 thường được các tài liệu trong nước trích dẫn để ca ngợi Trần Đức Thảo như một người tiên phong duy nhất vượt qua Husserl. Tuy nhiên, sự thật lịch sử chứng minh: vào thập niên 1940, việc nhận ra những giới hạn của phương pháp hiện tượng học Husserl là “không khí chung” của toàn bộ thế hệ triết gia châu Âu, ngay từ thế hệ học trò trực tiếp của Husserl.

Husserl muốn dùng phương pháp “đóng ngoặc” (Epoché) nhằm gạt bỏ thế giới vật lý để đưa mọi thứ về ý thức siêu nghiệm thuần túy. Nhưng hệ thống này bộc lộ sự bất lực hoàn toàn và bế tắc khi đối diện với thực tại lịch sử bạo lực và sự hiện diện của tha nhân. Giới tinh hoa Pháp đã nhận ra điều này và thi nhau tìm lối thoát:

  • Jean-Paul Sartre nhận ra bế tắc này và lập tức bẻ lái Hiện tượng học sang Chủ nghĩa Hiện sinh, nhấn mạnh vào sự dấn thân và hành động hiện sinh.
  • Maurice Merleau-Ponty — đồng nghiệp và cũng là bạn của Trần Đức Thảo — cũng nhận ra giới hạn đó, và chọn cách đưa Hiện tượng học gắn chặt vào “thân xác” (cơ thể vật lý và tri giác) để kéo nó thoát khỏi sự bay bổng siêu hình.
  • Sau này, những triết gia lớn như Jacques Derrida hay Emmanuel Levinas cũng tiếp tục mổ xẻ sự bất lực của Husserl ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Như vậy, việc nhận ra khiếm khuyết của Husserl là một nhận thức mang tính thời đại, không phải đặc quyền hay phát kiến của riêng Trần Đức Thảo. Ông chỉ đóng góp trong phần truyền thông tiếng Pháp về các tranh luận đa chiều về phương pháp của Husserl. Điểm sáng làm nên tên tuổi Trần Đức Thảo thời điểm đỉnh cao này nằm ở “giải pháp” mà ông đề xuất: trong khi Merleau-Ponty dùng “tri giác thân xác”, Sartre dùng “hành động hiện sinh”, thì Thảo chọn dùng Chủ nghĩa Marx — cụ thể là chủ nghĩa duy vật lịch sử — để lấp vào khoảng trống siêu hình của Husserl. Xin nhấn mạnh, đây là một ý tưởng cực kỳ táo bạo và thú vị cho giới học giả thời bấy giờ, vì nó cho phép hai hệ tư tưởng đang “làm mưa làm gió” trên các giảng đường là Chủ nghĩa duy vật giao phối với Hiện tượng học.

Xin nhấn mạnh một lần nữa, Thảo mới dừng ở ý tưởng, chứ chưa bước tới dấn thân để xây dựng một học thuyết, một phương pháp hay một trường phái tư duy của riêng mình.

Sự nóng vội và một công trình lắp ghép non tay

Bi kịch học thuật lớn nhất của Trần Đức Thảo nằm ở chỗ: ông có một ý tưởng lai tạo táo bạo, nhưng lại thiếu hoàn toàn sự kiên nhẫn và tính kỷ luật nghiêm ngặt để xây dựng nó thành một hệ thống vững chắc.

Xây dựng một hệ thống tư tưởng đòi hỏi hàng chục năm gọt giũa khái niệm. Nhưng Trần Đức Thảo lại hành động theo kiểu một người thợ hàn nóng vội. Việc kết hợp chủ nghĩa Marx và hiện tượng học đòi hỏi sự tái cấu trúc phương pháp luận triệt để — một bên cho ý thức cấu thành thế giới, bên kia cho tồn tại xã hội quyết định ý thức. Thay vì giải quyết mâu thuẫn nhận thức luận này, ông lại lấy cái mái nhà Duy vật biện chứng đặt lên trên cái móng Hiện tượng học, dùng những lập luận thô sơ, suy lý để “khâu” hai hệ thống vốn dĩ bài xích nhau này lại.

Năm 1951, việc xuất bản cuốn sách Phénoménologie et matérialisme dialectique (Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng) phơi bày rõ nhất sự bế tắc này. Đây không phải là một công trình triết học hoàn chỉnh mà thực chất chỉ là một bản nháp vội vã, được chắp vá cơ học từ các bài viết lẻ tẻ trên tạp chí Les Temps Modernes. Tác phẩm này thể hiện sự non tay và nóng vội của một nghiên cứu sinh khi chưa khai thông được hết về hiện tượng học và cũng chưa lĩnh hội hết về chủ nghĩa duy vật.

Ngay khi “cái móng” đào chưa xong, “chất vữa” phương pháp luận chưa kịp khô, cuối năm 1951, ông quyết định bỏ dở công trường để cuốn theo tiếng gọi của chính trị thực tiễn, rời nước Pháp trở về chiến khu Việt Bắc, đúng theo tinh thần của một người thầy: Jean Cavaillès. Cavaillès là một triết gia chuyên về toán học và logic học, nhưng khi Thế chiến thứ hai nổ ra, ông đã rời bục giảng để trở thành một trong những thủ lĩnh vĩ đại nhất của phong trào Kháng chiến Pháp chống lại phát xít Đức. Cavaillès bị Gestapo bắt và xử bắn vào năm 1944.

Trần Đức Thảo vô cùng kính trọng người thầy này. Sự hy sinh của Cavaillès là một cú sốc lớn, đồng thời là một bài học đanh thép đối với Thảo: triết học không thể chỉ nằm trên giấy, triết học phải gắn liền với hành động và sự dấn thân. Có lẽ, chính tấm gương của giáo sư Cavaillès đã gieo mầm cho quyết định “vội vã” của Trần Đức Thảo sau này, rời tháp ngà học thuật Paris để về rừng núi quê hương tham gia kháng chiến. Quyết định bỏ cuộc này không chỉ là sự xê dịch địa lý, mà là một hành động tự sát về mặt học thuật. Ông vứt bỏ cơ hội được cọ xát trong “hệ sinh thái phản biện” khốc liệt tại Paris — thứ duy nhất có thể giúp ông đập đi xây lại công trình chắp vá của mình thành một hệ thống tư tưởng độc lập. Trong khi những triết gia Pháp cùng thời như Merleau-Ponty, Derrida, Levinas kiên nhẫn ở lại, dùng cả đời để bảo vệ và hoàn thiện hệ thống triết học của họ, thì Trần Đức Thảo lại ném bản vẽ ra đó rồi bỏ đi.

Việc kiến tạo một nền tảng hệ thống triết học là công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn tột độ. Immanuel Kant từng trải qua 11 năm “im lặng vĩ đại” chỉ để suy tưởng và hoàn tất Phê phán lý tính thuần túy. Edmund Husserl dành trọn phần đời còn lại viết hàng chục vạn trang di cảo chỉ để làm rõ một vài khái niệm nền tảng cho phương pháp Hiện tượng học của mình. Trần Đức Thảo không cho mình cái khoảng thời gian xa xỉ đó. Ông đã ném bản phác thảo Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng lên máy in của nhà xuất bản khi nó còn đang dang dở, chưa kịp “thử tải” hay gia cố nền móng, để vội vã chạy theo tiếng gọi của chính trị thực tiễn. Thực tế lịch sử chỉ rõ: nghiên cứu sinh Trần Đức Thảo đã bỏ ngang con đường hàn lâm, chưa từng khởi thảo một luận án tiến sĩ cấp quốc gia, và vĩnh viễn chưa đặt được viên gạch đầu tiên cho một trường phái tư tưởng mang tên mình.

Lỡ chuyến tàu lịch sử: Kẻ mắc kẹt với một “Bóng ma”

Sự rời đi nóng vội đó đã đưa thạc sĩ Trần Đức Thảo vào một bản án chung thân của sự “lệch pha” lịch sử.

Khi Karl Marx và Friedrich Engels viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, họ đã mở đầu bằng hình ảnh một “bóng ma” ám ảnh châu Âu. Xuyên suốt thế kỷ 20, hệ tư tưởng này đã thực sự tạo ra một sự đứt gãy và phân cực sâu sắc trong thế giới quan hàn lâm. Vào những năm 1940 đến 1950, Chủ nghĩa Marx gần như là thứ tôn giáo thế tục của giới trí thức cánh tả Pháp. Họ xem đó là một công cụ phân tích lịch sử, xã hội và kinh tế mang tính tất yếu, mở rộng vòng tay đón nhận tư tưởng này vào các cuộc nghị sự triết học.

Nhưng đến thập niên 1960, sau những chấn động chính trị và lịch sử khốc liệt — Báo cáo mật tố cáo tội ác Stalin năm 1956, sự kiện Mùa xuân Praha đẫm máu năm 1968 — giới học thuật phương Tây đã bừng tỉnh. Họ thực hiện một cuộc “trừ tà” tập thể. Bóng ma giáo điều “vật chất quyết định ý thức” bị giải thiêng và đẩy lùi. Những trí thức từng cùng thời với Trần Đức Thảo đã nhanh chóng cập nhật hệ hình nhận thức, vượt qua Chủ nghĩa Marx giáo điều để tiến thẳng vào kỷ nguyên của Chủ nghĩa Cấu trúc và sau đó là Giải cấu trúc.

Trái ngược hoàn toàn, Trần Đức Thảo bị kẹt cứng đằng sau Bức màn sắt Chiến tranh Lạnh. Tại Hà Nội, do hệ lụy từ biến cố Nhân Văn – Giai Phẩm (1956-1958), ông bị tước đi quyền tự do diễn ngôn học thuật. Vì không có một trường phái tự thân đủ vững chãi để đóng vai trò người tạo dựng hệ thống tư tưởng cho xã hội, ông bị đặt dưới sự giám sát hành chính và tư tưởng vô cùng ngặt nghèo của chế độ. Nhóm kiểm tỏa Trần Đức Thảo trực tiếp chính là các cán bộ thuộc bộ máy tuyên giáo trung ương, cụ thể là các cán bộ lý luận chính trị và lãnh đạo đại học có liên hệ mật thiết với cấu trúc quyền lực.

Dưới sự kìm kẹp của mạng lưới quản lý tư tưởng giáo điều này, ông buộc phải đóng băng tư duy của mình trong khuôn khổ của Chủ nghĩa Marx-Lenin kiểu Xô Viết thập niên 50. Ông bị tước mất công cụ tư duy, nhốt mình trong một hệ từ vựng giáo điều đã lỗi thời — chính thứ tư duy mà những người bạn cũ ở Paris đã vứt vào sọt rác lịch sử từ nửa cuối thập niên 1960.

Trò chơi sinh tồn tuyệt vọng: Mượn sọ vượn giấu nội dung triết học

Để sinh tồn trong một môi trường mà triết học bị thu hẹp thành các bài giảng chính trị giáo điều dưới sự kiểm duyệt của nhóm tuyên giáo, Trần Đức Thảo đã phải dùng đến một “chiếc van xả” học thuật: chuyển hướng sang nghiên cứu Cổ nhân chủng học và sự tiến hóa ngôn ngữ. Thành quả của giai đoạn này là bản thảo Recherches sur l’origine du langage et de la conscience (Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức), được lén đưa ra nước ngoài và xuất bản tại Pháp năm 1973.

Về mặt chính trị, đây là một lớp vỏ bọc hoàn hảo. Bằng cách dựa vào tiểu luận của Friedrich Engels về quá trình “vượn thành người” thông qua lao động, ông tỏ ra là một học giả ngoan đạo, đảm bảo tính chính thống về mặt ý thức hệ, không thể bị bắt bẻ bởi các trưởng khoa quản lý tư tưởng.

Về mặt học thuật, đây là cú “trá hình” cuối cùng của ông. Ông tuyệt vọng cố gắng dùng hình ảnh con vượn đập đá và các cử chỉ chỉ tay báo hiệu để lén lút giải quyết nốt bài toán về “Tính định hướng” (Intentionalität) của ý thức — một vấn đề siêu hình học cốt lõi của Husserl mà ông đã chưa thông suốt được từ năm 1951.

Tuy nhiên, khi gác tình cảm sang một bên để đọc văn bản dưới góc độ hàn lâm, giới triết học Pháp nhận ra một sự thật tàn nhẫn: Trần Đức Thảo và Paris đã nói hai thứ ngôn ngữ khác nhau.

Trong 20 năm Thảo vắng mặt, tháp ngà triết học Pháp đã lật nhào vài lần:

  • Về ngôn ngữ học: Noam Chomsky đang thống trị phương Tây với lý thuyết về Ngữ pháp tạo sinh, giải thích con người sinh ra đã có cấu trúc ngôn ngữ bẩm sinh trong não. Cách giải thích của Thảo rằng ngôn ngữ sinh ra từ lao động và các cử chỉ chỉ trỏ vật chất bị coi là quá thô, lạc hậu và đi ngược lại trào lưu.
  • Về triết học: Chủ nghĩa Cấu trúc và Giải cấu trúc đã quét sạch những tàn dư của Hiện tượng học kiểu cũ. Giới học thuật Pháp lúc này coi việc dùng Engels để giải thích sinh học là một thứ “Chủ nghĩa duy vật thô sơ” và cực kỳ lỗi thời.
  • Về khoa học: Khi giải ảo lớp vỏ lãng mạn của một “tác phẩm viết trong vòng vây”, nhìn thẳng vào văn bản dưới góc độ hàn lâm, ta phải thừa nhận: cuốn sách năm 1973 thực chất là một sự thất bại thảm hại về mặt phương pháp luận. Đó là một con “Frankenstein” học thuật, cố ép triết lý siêu hình Đức vào hành động đập đá của vượn cổ một cách khiên cưỡng. Do bị cô lập bưng bít hàng chục năm, dữ liệu xương sọ và công cụ đá mà ông dùng đã lạc hậu trầm trọng so với nền sinh học tiến hóa và giải mã ADN của phương Tây thập niên 1970. Hơn nữa, để được an toàn, cuốn sách bị nhồi nhét đặc nghẹt những từ vựng Marxist giáo điều, khô khan và rập khuôn. Nó là sản phẩm của lý luận suy lý viễn tưởng ngồi trong phòng kín, chứ không phải khoa học hiện đại, thậm chí còn không bằng phương pháp khoa học thực chứng của thế kỷ 18.

Khi cuốn sách ra mắt tại Paris, giới trí thức Pháp đón nhận nó bằng sự ngậm ngùi thương cảm cho một người quen cũ, một trí thức trẻ đầy triển vọng của những năm 40, nhưng khước từ nó hoàn toàn về mặt học thuật. Cuốn sách không tạo ra bất kỳ một cuộc tranh luận đương đại nào, bởi đơn giản, Trần Đức Thảo và trung tâm học thuật Paris lúc đó đã nói hai thứ ngôn ngữ thuộc về hai thời đại hoàn toàn khác nhau. Người ta kính trọng hào quang quá khứ của người viết ra nó, nhưng đành xếp nó lên giá sách như một “di chỉ khảo cổ tư tưởng” thay vì một công trình khoa học đương đại.

Sự tàn nhẫn của con đường học thuật

Viết về Trần Đức Thảo không phải để hạ bệ, mà để trả lại sự công bằng sòng phẳng nhất cho lịch sử tư tưởng, đồng thời giải thoát ông khỏi những diễn ngôn chính trị nhị nguyên đã bóp méo thực tại suốt nhiều thập kỷ.

Chừng nào di sản của ông còn bị giằng xé giữa hai thái cực chính trị, sự định danh về ông sẽ còn sai lệch. Với những tự sự chống Cộng, ông thường được công cụ hóa thành một nạn nhân thuần túy, một “thiên tài bị bức tử” bởi chế độ toàn trị, nhằm phục vụ cho mục đích lên án hệ thống. Ngược lại, trong các diễn ngôn thân Cộng hoặc mang tâm lý tự hào dân tộc thái quá, ông lại được suy tôn thành một biểu tượng trí thức yêu nước hy sinh tháp ngà học thuật vì lý tưởng, từ đó người ta cố tình khỏa lấp đi những lỗ hổng chí mạng về mặt phương pháp luận trong các trước tác của ông. Cả hai góc nhìn này đều bám vào một “bóng ma” để có thể tồn tại, dù xót xa hay ca ngợi, đều mang tính lợi dụng và vô tình tước đoạt đi tư cách con người học thuật chân thực nhất của Thảo.

Bỏ đi hai chữ “thiên tài” cũng như lớp sương mù của các cuộc chiến tranh ý thức hệ, câu chuyện về ông trở thành một bài học đắt giá về sự tàn nhẫn của con đường học thuật. Ông là minh chứng sống động cho việc: một người có thể sở hữu năng khiếu giải mã xuất chúng, có thể gặp thời khi nắm trong tay những tư liệu quý giá nhất mà cả thời đại đang khao khát, và có những trực giác cực kỳ nhạy bén về sự chuyển dịch của các dòng chảy triết học. Nhưng tư tưởng không thể tồn tại chỉ bằng trực giác. Sự nóng vội lấp liếm các mâu thuẫn cốt lõi, sự thiếu kỷ luật trong việc nghiên cứu khoa học và xây dựng tư tưởng triết học một cách bài bản, và quyết định bồng bột rời bỏ môi trường học thuật chuyên nghiệp đã biến toàn bộ ý tưởng nghiên cứu của ông thành một bản nháp vĩnh viễn không thể hoàn thiện.

Có một sự mỉa mai đầy cay đắng mang tính hài hước đen của lịch sử đối với số phận học thuật của Trần Đức Thảo. Xuất phát điểm là một chuyên gia về phương pháp Hiện tượng học Husserl, chuyên nghiên cứu về những gì “hiển lộ” rõ ràng trước con người có ý thức, ông lại kết thúc sự nghiệp như một nhà nghiên cứu bị “ma ám”. Ông bị cầm tù tư tưởng vì tư tưởng của ông không có trường phái riêng, và bị ám ảnh đến kiệt quệ bởi chính cái “bóng ma” giáo điều vật chất quyết định ý thức mà ông từng vội vã rước về nhằm lấp liếm những lỗ hổng cho phương pháp của Husserl.

Rốt cuộc, Trần Đức Thảo không phải là một triết gia. Ông từng là một học giả trẻ người Việt có năng lực ngôn ngữ và năng khiếu triết học, có cơ hội được cưỡi lên ngọn sóng lớn nhất của thời đại mình, nhưng lại quá nóng vội tự ý nhảy khỏi con thuyền học thuật quá sớm, để rồi vĩnh viễn mắc kẹt lại trên một hoang đảo của những biến động địa chính trị toàn cầu.

(*) Tác giả: Charles Paine. Viết cho nghiencuuquocte.org

reddit.com
u/hungdungnguyen — 13 days ago

NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Ở Việt Nam gần đây có một số dấu hiệu mới khiến nhiều người lo ngại. Thứ nhất, Việt kiều về nước phải đăng ký tạm trú (như mấy chục năm trước!); thứ hai, chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề của luật sư. Nhiều người nói đến sự củng cố của một nền công an trị.

Chế độ độc tài nào cũng bắt đầu bằng một cuộc cách mạng và kết thúc bằng một cuộc cách mạng khác. Ở cuộc cách mạng đầu, họ có thể là anh hùng; ở cuộc cách mạng sau, họ là tội phạm, chỉ trừ một ngoại lệ: chính họ đứng ra khởi xướng cuộc cách mạng thứ hai để xóa bỏ các di sản của cuộc cách mạng thứ nhất.

Các chế độ độc tài không cần gì ở người dân hơn là sự dửng dưng. Dửng dưng trước tội ác. Dửng dưng trước sự áp bức. Dửng dưng trước vận mệnh đất nước. Và dửng dưng trước cả sự khổ nhục của chính mình. Chính sự dửng dưng ấy là dưỡng khí và dưỡng chất cần thiết để duy trì và nuôi dưỡng độc tài.

Tâm lý của phần lớn dân chúng là muốn được an toàn, và vì muốn được an toàn nên họ sợ đương đầu với chế độ độc tài, nhưng chính vì tránh né đương đầu như thế nên chế độ độc tài càng kéo dài và họ càng không được an toàn.

Ma quỷ hiện hữu nhờ óc mê tín. Các tên độc tài tồn tại nhờ sự cuồng tín của con người. Mê hay cuồng đều loại trừ lý trí.

Ở Việt Nam không có nhà độc tài. Chỉ có một bộ máy độc tài

(*) Bài: facebooker Nguyễn Hưng Quốc

reddit.com
u/hungdungnguyen — 17 days ago

Một lẽ thường tình

Những điều mà một facebooker quốc nội khuyết danh đưa lên - như hình đã dẫn - không phải là tưởng tượng. Đó sẽ là những thứ chắc chắn sẽ xảy đến, một khi bối cảnh ở Liên Xô và Đông Âu xuất hiện trên đất Việt

Và cũng bởi quy luật ấy - như được đúc kết từ đời xưa, "Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" - cho nên các quan lớn nhà ta phải tạo ra những kẻ thù tưởng tượng. Phải tuyển chọn những hạng vô luân, điếm đàng (như những hạng nguỵ cán chính, có trong hình) về làm loa, mõ cho các bố già mẹ lớn ấy. Phải tăng cường gây chia rẽ trong quần chúng, trong khi ráng sức giấu giếm những "điểm nghẽn" trong nội bộ. Phải che mắt, mê hoặc hoá dân chúng bằng những bánh mì và rạp xiếc; nếu chưa đủ thì vặn hết hơi mà thổi phồng những xung đột nội bộ như một cuộc chiến một mất một còn... Bởi, chế độ đương tiền và những kẻ tiện dân là nguồn vàng bạc vô tận của các thầy cả mợ lớn. Cho nên phải duy trì bằng mọi giá, để đổi lấy sự vinh quang thăng hoa đến mãn đời

Nhưng, cũng như cái lò xo, co lâu thì giãn. Chỉ những ai có đủ khả năng nhận ra những điều ấy, mới đủ khả năng tin vào một tương lai xán lạn hơn cho dân tộc

u/hungdungnguyen — 18 days ago