
CHÍNH TRỊ LÀ GÌ VÀ VÌ SAO NGƯỜI DÂN BỊ DẪN DẮT ĐỨNG NGOÀI NÓ?
Nhà khoa học chính trị Harold Lasswell, trong tác phẩm "Politics: Who Gets What, When, How" xuất bản năm 1936, đưa ra một trong những định nghĩa ngắn gọn và chính xác nhất về chính trị: "Chính trị là việc quyết định ai nhận được cái gì, khi nào và làm sao để nhận được." Theo cách hiểu này, chính trị không phải là những bài diễn văn hoành tráng hay lý thuyết xa rời thực tế, mà là cơ chế phân bổ tài nguyên và quyền lực trong xã hội, bao gồm tiền thuế, đất đai, cơ hội kinh doanh, quyền tiếp cận y tế, giáo dục và các quyền tự do cá nhân. Vì tài nguyên xã hội luôn có hạn trong khi nhu cầu con người là vô hạn, xung đột lợi ích là điều tất yếu, và chính trị chính là quá trình các cá nhân, nhóm lợi ích, tổ chức hay nhà nước đàm phán, tranh giành, áp đặt hoặc thỏa hiệp để đưa ra quy tắc chung giải quyết xung đột đó.
Để nhận biết một sự việc có mang tính chính trị hay không, chỉ cần nó chạm vào 1 trong 4 tiêu chí sau là đủ.
Tiêu chí thứ nhất là sự việc liên quan đến việc ban hành hoặc áp đặt một quy tắc chung mang tính bắt buộc: quyết định trong nhà tối nay ăn cơm hay ăn phở là lựa chọn cá nhân, nhưng chính quyền thành phố cấm xe máy xăng vào nội đô từ năm 2030 là dùng quyền lực công áp đặt một quy tắc ứng xử bắt buộc lên hàng triệu người, nên đó là chính trị.
Tiêu chí thứ hai là sự việc tác động đến việc phân bổ lại tài nguyên hoặc lợi ích: hai doanh nghiệp tư nhân tự thỏa thuận mua bán theo giá thị trường không phải chính trị, nhưng nhà nước tăng thuế giá trị gia tăng lên 10% hoặc thu hồi đất nông nghiệp để làm dự án đô thị là chính trị, vì nó trực tiếp chuyển tài sản và lợi ích từ nhóm này sang nhóm khác hoặc sang ngân sách chung.
Tiêu chí thứ ba là sự có mặt của quyền lực nhà nước hoặc bối cảnh bất bình đẳng quyền lực: hai người dân cãi nhau vì vết xước xe rồi tự đền bù cho nhau không phải chính trị, nhưng người dân khiếu kiện quyết định xử phạt hành chính của chính quyền, hay lập hội phản đối một phương án đền bù giải tỏa, là chính trị vì lúc đó xuất hiện quan hệ giữa quyền lực công và quyền lực tư.
Tiêu chí thứ tư là sự việc chịu ảnh hưởng bởi các quyết định chính sách đứng phía sau nó dù bề ngoài trông như chuyện đời sống cá nhân hay tự nhiên: giá xăng tăng hay giảm phụ thuộc vào chính sách thuế, quỹ bình ổn và quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, chương trình học của con cái thay đổi theo tư tưởng và định hướng của bộ giáo dục đương nhiệm, còn đèn đường không sáng phản ánh cách phân bổ ngân sách hạ tầng của chính quyền địa phương. Nói gọn lại, bất kỳ sự việc nào quyết định đến túi tiền, quyền lợi, sự tự do hay trật tự sống của một người mà do một bộ máy có quyền lực quyết định, thì đó đều là chính trị.
________________________________________
CHÍNH TRỊ Ở MỘT NƠI ĐANG PHỤC VỤ LỢI ÍCH CỦA AI
Sự phân bổ tài nguyên công và quy hoạch đất đai là nơi đầu tiên cần soi vào. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các giấy phép kinh doanh độc quyền là nguồn tài sản lớn nhất do nhà nước quản trị, nên câu hỏi đặt ra là ai được tiếp cận tài nguyên đó, và quy trình thu hồi, đền bù đất đai, cấp phép dự án có minh bạch, đúng giá thị trường hay không. Nếu người dân bị thu hồi đất với giá rẻ dưới danh nghĩa "phát triển kinh tế" hay "lợi ích công cộng", nhưng sau đó đất lại được giao cho các tập đoàn tư nhân hoặc nhóm thân hữu xây bất động sản cao cấp bán giá đắt gấp hàng chục lần, thì hệ thống chính trị đó đang đóng vai trò công cụ tích tụ tư bản cho nhóm lợi ích bất động sản và tài phiệt.
Cơ chế giải quyết xung đột và hệ thống tư pháp là nơi thứ hai. Khi xảy ra tranh chấp giữa các nhóm quyền lực như nhà nước hay tập đoàn lớn với người dân và người lao động, tòa án và pháp luật nghiêng về bên nào là chỉ dấu quan trọng: luật pháp được áp dụng đồng đều hay có vùng cấm, hệ thống tư pháp bảo vệ sức khỏe và môi trường của dân cư hay đứng về phía doanh nghiệp để bảo vệ chỉ số tăng trưởng khi xảy ra tranh chấp lao động hay sự cố xả thải. Ở nơi nào người dân nhỏ lẻ rất khó thắng kiện chính quyền hoặc tập đoàn lớn, trong khi sai phạm của quan chức chỉ bị xử lý nội bộ nhẹ nhàng còn người dân vi phạm nhỏ bị xử phạt kịch khung, thì ở đó chính trị đang phục vụ tầng lớp cai trị và phe nhóm của họ.
Khả năng tiếp cận và thay đổi quyết định của người dân, hay tính giải trình, là nơi thứ ba. Tiêu chí quyết định là người dân có công cụ gì để buộc chính quyền thay đổi khi chính sách đi ngược lại lợi ích của họ, có báo chí độc lập, công đoàn độc lập hay tổ chức xã hội dân sự giám sát không, người dân có thể bỏ phiếu bãi nhiệm người làm sai hay biểu tình ôn hòa mà không bị đàn áp không. Nếu người dân hoàn toàn không có kênh nào để đảo ngược một chính sách bất lợi như thuế tăng, giá điện tăng hay quy hoạch treo, thì bộ máy chính trị đó không phục vụ người dân mà chỉ phục vụ chính sự tồn vong và lợi ích của bộ máy cầm quyền.
________________________________________
CHIẾN LƯỢC HƯỚNG NGƯỜI DÂN CHỈ LO LÀM ĂN, KHÔNG QUAN TÂM CHÍNH TRỊ
Hiện tượng định hướng người dân tập trung làm ăn, không quan tâm chính trị là một chiến lược quản trị kinh điển, được nghiên cứu sâu trong triết học chính trị, xã hội học và khoa học chính trị hiện đại, thường được mô tả bằng các cách gọi như "khế ước xã hội kiểu độc tài" (authoritarian social contract), "phi chính trị hóa" (depoliticization) hay "thờ ơ chính trị có hệ thống". Mô hình này vận hành như một giao dịch ngầm: chính quyền hứa hẹn cung cấp sự ổn định, an ninh trật tự, hạ tầng và cơ hội phát triển kinh tế cá nhân, đổi lại người dân chấp nhận rút lui khỏi không gian tranh luận chính trị, không thách thức bộ máy cầm quyền và nhường quyền quyết định tối cao cho tầng lớp trị vì.
Tư tưởng này phản ánh tinh thần của triết gia Thomas Hobbes trong tác phẩm Leviathan, xuất bản năm 1651: con người sẵn sàng giao nộp quyền tự do chính trị cho một thực thể quyền lực tuyệt đối để đổi lấy sự an toàn và trật tự, tránh khỏi cảnh chém giết lẫn nhau. Trường hợp điển hình trong lịch sử hiện đại là Singapore dưới thời Lý Quang Diệu, nơi một nhà nước quản trị kỹ trị vô cùng hiệu quả mang lại mức sống cao, hạ tầng hiện đại và sự an toàn tối đa cho người dân, nhưng không gian cho đối lập chính trị và tự do báo chí bị giới hạn chặt chẽ, quyền lực tích tụ vào tay đội ngũ chuyên gia và chính trị gia cai trị với lập luận rằng chính trị chuyên nghiệp nên để chuyên gia làm, còn dân chỉ cần làm tốt việc của mình.
Chiến lược này phục vụ nhiều mục tiêu cùng lúc cho tầng lớp cầm quyền.
Nó tối thiểu hóa chi phí quản trị và triệt tiêu nguy cơ phản kháng: một hệ thống chỉ có thể duy trì bằng cưỡng chế hoặc bằng sự đồng thuận, mà cưỡng chế thì tốn kém và dễ gây phẫn uất, trong khi khi người dân tự nguyện rút khỏi đời sống chính trị thì bộ máy cầm quyền đạt được sự tuân phục gần như miễn phí.
Nó giúp độc quyền hóa việc phân bổ tài nguyên và lợi ích, bởi khi đa số người dân tin rằng chính trị là việc của cấp trên, họ đã tự tay giao toàn bộ quyền quyết định tài nguyên xã hội cho một nhóm nhỏ, giúp tầng lớp cầm quyền và các nhóm lợi ích thân hữu tự do phân bổ tài sản quốc gia mà không gặp giám sát hay đòi hỏi minh bạch.
Nó chuyển hướng năng lượng xã hội vào tiêu dùng, kiếm tiền, thăng tiến cá nhân và giải trí, đúng như hình ảnh "bánh mì và rạp xiếc" mà nhà thơ trào phúng La Mã Juvenal dùng trong tác phẩm Satires khoảng năm 100 để phê phán việc dân chúng La Mã đánh mất quyền công dân và chỉ còn quan tâm đến lương thực miễn phí cùng các trò giải trí, khiến con người bận rộn tích lũy tài sản đến mức ít có thời gian hoài nghi hay phản kháng hệ thống.
Nó chia rẽ khối liên kết xã hội, khi tư duy "lo bản thân mình thôi" thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, triệt tiêu năng lực tự tổ chức của xã hội dân sự và biến xã hội thành các cá thể rời rạc không thể tạo thành lực lượng đối trọng với nhà nước.
Nó vô hiệu hóa khả năng phản biện và sửa lỗi của xã hội, bởi khi việc quan tâm chính trị bị gán nhãn là bao đồng hay rảnh rỗi, những câu hỏi về sự yếu kém, tham nhũng hay sai lầm chính sách bị loại bỏ, và sai phạm của bộ máy quản lý được bình dân hóa thành "chuyện của cấp trên đã có cấp trên lo", giúp những người làm sai tránh khỏi trách nhiệm giải trình.
Và mục đích sâu xa nhất là biến "công dân" - người nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ, hiểu rằng thuế mình đóng là để thuê bộ máy nhà nước phục vụ và có quyền đòi hỏi chất lượng dịch vụ công - thành "người bị trị", chỉ tập trung lao động, đóng thuế, tiêu dùng, tuân thủ luật lệ và chấp nhận mọi quyết định từ trên xuống mà không bao giờ đòi hỏi quyền kiểm soát.
Chiến lược này có thể tạo ra sự ổn định trong ngắn và trung hạn, nhưng gieo mầm cho những rủi ro cấu trúc trong dài hạn. Người dân rơi vào một bẫy an toàn giả tạo: khi không quan tâm chính trị, họ mất khả năng tự vệ trước những chính sách thay đổi bất lợi như thuế, giải tỏa đất đai hay lạm phát, và khi lợi ích cá nhân bị đụng chạm, họ không có công cụ pháp lý hay tổ chức nào để bảo vệ mình. Trách nhiệm dân sự suy thoái, khi xã hội hình thành tâm lý vô cảm trước bất công chung theo kiểu "chuyện của người khác, miễn không đụng đến mình là được", làm xói mòn lòng tin xã hội và giảm chất lượng đạo đức cộng đồng. Và hệ thống đối mặt với rủi ro cố định, khi thiếu phản biện từ người dân khiến bộ máy cầm quyền dễ rơi vào tình trạng mù điểm, tự mãn, tham nhũng nội bộ và trì trệ vì không có cơ chế tự sửa lỗi từ bên dưới.
Gần với tinh thần các phân tích của những nhà tư tưởng chính trị như Hannah Arendt về sự thờ ơ chính trị của "đám đông" trong xã hội toàn trị, có thể nói tư tưởng "không quan tâm chính trị" bản chất lại là một hành vi chính trị. Khi một cá nhân quyết định không quan tâm, họ thực chất đã bỏ phiếu cho trạng thái nguyên trạng và trao toàn bộ quyền kiểm soát cuộc sống của mình cho người khác, bởi giá xăng, tiền điện, chất lượng không khí, chương trình học của con cái hay mức thuế thu nhập đều là sản phẩm của các quyết định chính trị, nên việc không quan tâm đến chính trị không giúp một cá nhân đứng ngoài tầm ảnh hưởng của nó.
________________________________________
CÁC KỸ THUẬT THAO TÚNG NGÔN NGỮ ĐỨNG SAU NHỮNG CÂU NÓI QUEN THUỘC
Những phát ngôn như "ăn cơm nhà nói chuyện chính trị", "việc nhà chưa xong lo việc quốc gia", hay "dân quan tâm làm gì, có lãnh đạo lo rồi" không đơn thuần là câu nói dân gian, mà dưới góc độ khoa học chính trị, tâm lý học hành vi và ngôn ngữ học ứng dụng, đây là những kỹ thuật thao túng tâm lý và thao túng nhận thức được thiết kế hoặc vô tình lan truyền nhằm định hình hành vi cộng đồng.
Kỹ thuật đầu tiên là hiệu ứng khung nhận thức: đặt "cơm nhà, việc nhà" đối lập với "chính trị, việc quốc gia" tạo ra ảo tưởng rằng đây là hai thế giới hoàn toàn tách biệt, trong khi sự thật là bát cơm, cọng rau muống hay công việc làm ăn của một gia đình chính là sản phẩm của chính trị - giá phân bón, nguồn nước tưới, chi phí vận tải, thuế VAT trên từng ki-lô-gam rau, hay lạm phát làm mất giá đồng tiền mua cơm đều trực tiếp xuất phát từ các quyết định, luật lệ và chính sách của nhà nước, khiến người dân tin rằng mình đang "tự túc" trong khi thực chất mọi khía cạnh nhỏ nhất của đời sống riêng tư đều nằm trong một khung pháp lý và kinh tế do chính trị quy định.
Kỹ thuật thứ hai đánh vào cảm xúc xấu hổ và áp lực chuẩn mực nhóm: bằng cách gắn việc nói chuyện chính trị với hình ảnh tiêu cực như "rảnh rỗi", "bao đồng" hay "chưa lo nổi bản thân", nó tạo ra một sự kỳ thị xã hội khiến một cá nhân muốn tìm hiểu hay thảo luận về chính sách công sẽ tự cảm thấy có lỗi, tự hoài nghi năng lực bản thân, hoặc sợ bị gán nhãn là "kẻ điên rồ, thất nghiệp", từ đó vô hiệu hóa động lực phản biện ngay từ trong tư tưởng.
Kỹ thuật thứ ba là cài cắm tâm lý bất lực đã học tập nhiễm, khái niệm "learned helplessness" của nhà tâm lý học Martin Seligman: câu nói "dân quan tâm làm gì, có thay đổi được gì đâu" là ứng dụng trực tiếp của khái niệm này, khi bộ máy tuyên truyền lặp đi lặp lại thông điệp rằng người dân không có quyền lực và sự tham gia của họ là vô ích, khiến họ tin rằng mình hoàn toàn không có khả năng tác động đến thực tại, từ đó rơi vào trạng thái thụ động và triệt tiêu mọi nỗ lực tìm hiểu hay đòi hỏi minh bạch.
Kỹ thuật thứ tư là huyền thoại hóa tầng lớp lãnh đạo, hay ngụy biện giao khoán trách nhiệm: phát ngôn "đã có lãnh đạo, nhà nước lo" ngụy tạo hình ảnh tầng lớp quản lý như những chuyên gia siêu việt hay bậc cha mẹ có đủ tri thức và lòng tốt tuyệt đối để lo cho tất cả mọi người, trong khi trong khoa học quản trị không có một cá nhân hay nhóm chuyên gia nào có đủ thông tin để đưa ra quyết định hoàn hảo cho hàng triệu người mà không cần cơ chế phản hồi từ dưới lên, và khi cắt bỏ sự giám sát của người dân, hệ thống quản trị mất đi kênh phát hiện lỗi, dẫn đến tham nhũng, lãng phí và chính sách xa rời thực tế.
Nghiên cứu về lý thuyết kiểm soát xã hội tóm gọn mục đích của chuỗi tuyên truyền này qua ba bước nối tiếp: trước hết cô lập tư duy bằng thông điệp "chính trị không liên quan đến bạn", sau đó khơi gợi tự ti bằng thông điệp "chưa lo xong thân, nói chuyện lớn làm gì", và cuối cùng đạt được sự phi chính trị hóa, biến người dân thành lực lượng lao động thuần túy, dễ quản lý. Bản chất của các câu nói này là biến công dân - người có quyền và nghĩa vụ đối với quốc gia - thành người tiêu dùng hoặc người lao động thuần túy, chỉ biết làm việc, đóng thuế, tiêu dùng và tuân thủ mà không đặt câu hỏi về cách tài nguyên và quyền lực của mình đang được sử dụng.
________________________________________
VÌ SAO NGƯỜI XƯA DỄ CHẤP NHẬN LẠM QUYỀN HƠN NGƯỜI HIỆN ĐẠI
Con người trong các xã hội phong kiến hay độc tài nghèo khổ thường dễ chấp nhận sự lạm quyền của tầng lớp cai trị hơn con người trong xã hội hiện đại sung túc, và sự khác biệt này xuất phát từ những nguyên nhân cấu trúc chứ không phải vì người xưa "ngoan ngoãn" hay "thiện lành" hơn. Nguyên nhân thứ nhất nằm ở vị trí trên tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow: trong các xã hội phong kiến hay độc tài nghèo khổ, đại đa số dân chúng nằm ở tầng đáy của tháp nhu cầu, tức nhu cầu sinh học về ăn, mặc, ở và tồn tại, nên khi một người phải vật lộn từng ngày để có đủ cái ăn cho gia đình, toàn bộ năng lượng và sự chú ý của họ bị chiếm trọn bởi việc sống sót, không còn dư thời gian, tri thức hay tài chính để nghĩ đến những khái niệm như quyền con người, sự bình đẳng hay công lý. Trong xã hội hiện đại sung túc, khi các nhu cầu cơ bản đã được thỏa mãn, con người chuyển sang đòi hỏi những nhu cầu cấp cao hơn như được tôn trọng, được tự do và được thể hiện bản thân, đồng thời có "vốn dự trữ" về tiền tiết kiệm, thời gian rảnh và mạng lưới xã hội để chấp nhận rủi ro khi đấu tranh.
Nguyên nhân thứ hai được nhà tư tưởng người Pháp Alexis de Tocqueville chỉ ra khi nghiên cứu Cách mạng Pháp, trong tác phẩm Chế độ cũ và Cách mạng xuất bản năm 1856: sự bất bình đẳng hay lạm quyền không gây ra phản kháng mạnh nhất khi nó ở mức tồi tệ nhất, mà thường bùng nổ khi điều kiện xã hội bắt đầu được cải thiện, vì khi đó nguyện vọng của người dân tăng nhanh hơn tốc độ đáp ứng thực tế của chính quyền, hiện tượng sau này được gọi là nghịch lý Tocqueville hay "cách mạng của những kỳ vọng gia tăng". Trong chế độ phong kiến, nghèo khổ và lạm quyền được xem là trạng thái tự nhiên vì người dân chưa từng biết đến một xã hội tốt đẹp hơn để so sánh, nên họ coi sự áp bức là điều hiển nhiên phải chấp nhận, còn trong xã hội hiện đại, khi mức sống tăng lên và thông tin mở rộng, khoảng cách giữa những gì người dân nghĩ mình xứng đáng nhận được và những gì chính quyền thực sự đáp ứng tạo ra sự phẫn nộ tương đối.
Nguyên nhân thứ ba nằm ở cấu trúc niềm tin về tính chính đáng của quyền lực. Trong xã hội phong kiến hay độc tài nghèo, quyền lực được biện hộ bằng thần quyền hay thiên mệnh, vua được xem là "thiên tử", quan lại là "dân chi phụ mẫu", nên sự lạm quyền được lý giải là do ý trời hoặc quyền của bậc cha mẹ, và người dân tự xem mình là thần dân, người thụ hưởng ơn huệ, còn thuế là khoản cống nộp bắt buộc cho chủ nhân đất nước. Trong xã hội hiện đại, quyền lực được hiểu theo khế ước xã hội, chính quyền chỉ là bên được dân bầu hoặc ủy quyền để làm việc và lạm quyền là vi phạm hợp đồng, nên người dân tự xem mình là công dân, người đóng thuế và là chủ tài sản công, còn thuế là khoản tiền mua dịch vụ quản lý mà họ có quyền đòi hỏi chất lượng tương ứng.
Nguyên nhân thứ tư là sự chênh lệch tuyệt đối về chi phí phản kháng và khả năng tổ chức. Trong chế độ xưa, chi phí phản kháng cực cao khi những tội như chống đối hay khi quân thường dẫn đến án tử hình hoặc diệt tộc, trong khi xã hội bị cô lập vì thiếu phương tiện liên lạc khiến người dân làng này không biết làng khác đang chịu đựng điều gì và không thể liên kết thành lực lượng. Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của Internet, mạng xã hội và truyền thông khiến chi phí chia sẻ thông tin gần như bằng 0, có thể biến sự lạm quyền của một quan chức địa phương nhỏ thành làn sóng phẫn nộ trên toàn quốc chỉ sau vài giờ, đồng thời sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu đông đảo - vừa có tri thức, vừa có phương tiện, vừa có động lực cao để bảo vệ tài sản và tự do của mình - tạo ra một lực lượng phản kháng mà xã hội phong kiến chưa từng có.
________________________________________
KHÔNG PHẢI QUỐC GIA NÀO CŨNG THAO TÚNG NHƯ NHAU
Trong khoa học chính trị và xã hội học, việc đánh giá một kỹ thuật thao túng nhận thức là tốt hay xấu không dựa trên đạo đức thuần túy, mà dựa trên hiệu quả quản trị ngắn hạn so với chi phí và rủi ro cấu trúc dài hạn.
Ở khía cạnh bị đánh giá là tiêu cực dưới góc độ phát triển bền vững và quyền con người, chiến lược này triệt tiêu năng lực tự sửa lỗi của hệ thống: khi người dân bị thao túng để không quan tâm hay phản biện, chính quyền mất đi kênh phản hồi thực tế, khiến các chính sách sai lầm, tham nhũng hay xói mòn hiệu lực quản trị không được phát hiện kịp thời, dẫn đến khủng hoảng tích tụ ngầm. Nó tạo ra trạng thái bất an cấu trúc cho cá nhân: người dân tưởng mình an toàn khi chỉ lo làm ăn, nhưng vì thiếu công cụ chính trị và pháp lý để giám sát quyền lực, tài sản và quyền lợi của họ có thể bị tước đoạt bất kỳ lúc nào bởi các quyết định hành chính duy ý chí mà không thể tự vệ. Và nó làm suy thoái chất lượng vốn xã hội, khi sự vô cảm, bất tín lẫn nhau và tâm lý "chuyện ai nấy lo" làm suy yếu tính liên kết cộng đồng, biến xã hội thành tập hợp các cá thể rời rạc, dễ bị tổn thương trước biến động.
Mức độ và bản chất của việc thao túng nhận thức chính trị khác biệt rất lớn giữa các quốc gia. Theo Chỉ số Dân chủ của tổ chức Economist Intelligence Unit và các nghiên cứu về truyền thông đại chúng, sự thao túng phân hóa rõ rệt tùy thuộc vào cấu trúc hệ thống chính trị và cơ chế phân bổ quyền lực: ở các mô hình toàn trị hay độc tài, thao túng mang tính đơn hướng và độc quyền, đẩy người dân ra khỏi chính trị, còn ở các mô hình dân chủ đại diện, thao túng mang tính đa hướng và cạnh tranh, lôi kéo người dân vào các phe chính trị khác nhau.
Ở các chế độ độc tài hoặc toàn trị, mức độ thao túng rất cao và mang tính độc quyền. Chính quyền kiểm soát toàn bộ báo chí, truyền thông nhà nước và giáo dục để phát đi một thông điệp duy nhất rằng chính trị phức tạp, đã có nhà nước lo, dân chỉ cần làm ăn, đồng thời hình sự hóa hoặc dán nhãn tiêu cực đối với các hoạt động chính trị nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước. Mục tiêu là phi chính trị hóa quần chúng, biến công dân thành lực lượng lao động thuần túy và thụ động.
Ở các chế độ dân chủ đại diện, mức độ thao túng ở khoảng trung bình đến cao nhưng mang tính cạnh tranh. Chính quyền không thể cấm đoán người dân bàn luận chính trị, nên thay vào đó các đảng phái, tập đoàn truyền thông và các nhóm lợi ích vận động hành lang sử dụng kỹ thuật "sản xuất sự đồng thuận", khái niệm do Noam Chomsky và Edward Herman đưa ra trong tác phẩm Manufacturing Consent năm 1988, để thao túng người dân bầu cho phe của mình. Thao túng ở đây không phải là bảo dân đừng quan tâm chính trị, mà là dẫn dắt họ quan tâm theo hướng có lợi cho một phe phái cụ thể, thông qua truyền thông cánh tả đối lại truyền thông cánh hữu, với mục tiêu tối đa hóa phiếu bầu và bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị của phe cầm quyền.
Sự khác biệt này bắt nguồn từ ba yếu tố nền tảng.
Yếu tố thứ nhất là nguồn gốc tính chính đáng của quyền lực: ở quốc gia độc tài, tính chính đáng dựa trên thành quả như tăng trưởng kinh tế hay giữ gìn trật tự, nên họ cần dân đứng ngoài chính trị để bộ máy tự do vận hành, trong khi ở quốc gia dân chủ, tính chính đáng dựa trên quy trình bầu cử, nên họ buộc phải lôi kéo người dân tham gia chính trị hoặc ít nhất là đi bầu.
Yếu tố thứ hai là sự tồn tại của báo chí độc lập và xã hội dân sự: nơi nào có môi trường truyền thông đa nguyên và các tổ chức độc lập, sự thao túng của chính quyền dễ bị bóc tách và phản biện, còn nơi nào nhà nước nắm độc quyền hạ tầng thông tin, sự thao túng diễn ra gần như tuyệt đối và không gặp lực cản.
Yếu tố thứ ba là cơ chế kiểm soát và cân bằng: sự phân chia giữa tư pháp, hành pháp và lập pháp hạn chế khả năng một nhóm duy nhất áp đặt toàn bộ khung nhận thức lên xã hội, và khi thiếu cơ chế phân quyền, thao túng nhận thức trở thành công cụ cai trị mặc định.
Cre: Thuy My