u/AnotherPersonality8

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ VÀ VÌ SAO NGƯỜI DÂN BỊ DẪN DẮT ĐỨNG NGOÀI NÓ?

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ VÀ VÌ SAO NGƯỜI DÂN BỊ DẪN DẮT ĐỨNG NGOÀI NÓ?

https://preview.redd.it/c5j1dr0dchoh1.png?width=800&format=png&auto=webp&s=aa9da8b84bddba1ad5e3e6a5738c2061e2aff899

Nhà khoa học chính trị Harold Lasswell, trong tác phẩm "Politics: Who Gets What, When, How" xuất bản năm 1936, đưa ra một trong những định nghĩa ngắn gọn và chính xác nhất về chính trị: "Chính trị là việc quyết định ai nhận được cái gì, khi nào và làm sao để nhận được." Theo cách hiểu này, chính trị không phải là những bài diễn văn hoành tráng hay lý thuyết xa rời thực tế, mà là cơ chế phân bổ tài nguyên và quyền lực trong xã hội, bao gồm tiền thuế, đất đai, cơ hội kinh doanh, quyền tiếp cận y tế, giáo dục và các quyền tự do cá nhân. Vì tài nguyên xã hội luôn có hạn trong khi nhu cầu con người là vô hạn, xung đột lợi ích là điều tất yếu, và chính trị chính là quá trình các cá nhân, nhóm lợi ích, tổ chức hay nhà nước đàm phán, tranh giành, áp đặt hoặc thỏa hiệp để đưa ra quy tắc chung giải quyết xung đột đó.

Để nhận biết một sự việc có mang tính chính trị hay không, chỉ cần nó chạm vào 1 trong 4 tiêu chí sau là đủ.

Tiêu chí thứ nhất là sự việc liên quan đến việc ban hành hoặc áp đặt một quy tắc chung mang tính bắt buộc: quyết định trong nhà tối nay ăn cơm hay ăn phở là lựa chọn cá nhân, nhưng chính quyền thành phố cấm xe máy xăng vào nội đô từ năm 2030 là dùng quyền lực công áp đặt một quy tắc ứng xử bắt buộc lên hàng triệu người, nên đó là chính trị.

Tiêu chí thứ hai là sự việc tác động đến việc phân bổ lại tài nguyên hoặc lợi ích: hai doanh nghiệp tư nhân tự thỏa thuận mua bán theo giá thị trường không phải chính trị, nhưng nhà nước tăng thuế giá trị gia tăng lên 10% hoặc thu hồi đất nông nghiệp để làm dự án đô thị là chính trị, vì nó trực tiếp chuyển tài sản và lợi ích từ nhóm này sang nhóm khác hoặc sang ngân sách chung.

Tiêu chí thứ ba là sự có mặt của quyền lực nhà nước hoặc bối cảnh bất bình đẳng quyền lực: hai người dân cãi nhau vì vết xước xe rồi tự đền bù cho nhau không phải chính trị, nhưng người dân khiếu kiện quyết định xử phạt hành chính của chính quyền, hay lập hội phản đối một phương án đền bù giải tỏa, là chính trị vì lúc đó xuất hiện quan hệ giữa quyền lực công và quyền lực tư.

Tiêu chí thứ tư là sự việc chịu ảnh hưởng bởi các quyết định chính sách đứng phía sau nó dù bề ngoài trông như chuyện đời sống cá nhân hay tự nhiên: giá xăng tăng hay giảm phụ thuộc vào chính sách thuế, quỹ bình ổn và quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, chương trình học của con cái thay đổi theo tư tưởng và định hướng của bộ giáo dục đương nhiệm, còn đèn đường không sáng phản ánh cách phân bổ ngân sách hạ tầng của chính quyền địa phương. Nói gọn lại, bất kỳ sự việc nào quyết định đến túi tiền, quyền lợi, sự tự do hay trật tự sống của một người mà do một bộ máy có quyền lực quyết định, thì đó đều là chính trị.

________________________________________

CHÍNH TRỊ Ở MỘT NƠI ĐANG PHỤC VỤ LỢI ÍCH CỦA AI

Sự phân bổ tài nguyên công và quy hoạch đất đai là nơi đầu tiên cần soi vào. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các giấy phép kinh doanh độc quyền là nguồn tài sản lớn nhất do nhà nước quản trị, nên câu hỏi đặt ra là ai được tiếp cận tài nguyên đó, và quy trình thu hồi, đền bù đất đai, cấp phép dự án có minh bạch, đúng giá thị trường hay không. Nếu người dân bị thu hồi đất với giá rẻ dưới danh nghĩa "phát triển kinh tế" hay "lợi ích công cộng", nhưng sau đó đất lại được giao cho các tập đoàn tư nhân hoặc nhóm thân hữu xây bất động sản cao cấp bán giá đắt gấp hàng chục lần, thì hệ thống chính trị đó đang đóng vai trò công cụ tích tụ tư bản cho nhóm lợi ích bất động sản và tài phiệt.

Cơ chế giải quyết xung đột và hệ thống tư pháp là nơi thứ hai. Khi xảy ra tranh chấp giữa các nhóm quyền lực như nhà nước hay tập đoàn lớn với người dân và người lao động, tòa án và pháp luật nghiêng về bên nào là chỉ dấu quan trọng: luật pháp được áp dụng đồng đều hay có vùng cấm, hệ thống tư pháp bảo vệ sức khỏe và môi trường của dân cư hay đứng về phía doanh nghiệp để bảo vệ chỉ số tăng trưởng khi xảy ra tranh chấp lao động hay sự cố xả thải. Ở nơi nào người dân nhỏ lẻ rất khó thắng kiện chính quyền hoặc tập đoàn lớn, trong khi sai phạm của quan chức chỉ bị xử lý nội bộ nhẹ nhàng còn người dân vi phạm nhỏ bị xử phạt kịch khung, thì ở đó chính trị đang phục vụ tầng lớp cai trị và phe nhóm của họ.

Khả năng tiếp cận và thay đổi quyết định của người dân, hay tính giải trình, là nơi thứ ba. Tiêu chí quyết định là người dân có công cụ gì để buộc chính quyền thay đổi khi chính sách đi ngược lại lợi ích của họ, có báo chí độc lập, công đoàn độc lập hay tổ chức xã hội dân sự giám sát không, người dân có thể bỏ phiếu bãi nhiệm người làm sai hay biểu tình ôn hòa mà không bị đàn áp không. Nếu người dân hoàn toàn không có kênh nào để đảo ngược một chính sách bất lợi như thuế tăng, giá điện tăng hay quy hoạch treo, thì bộ máy chính trị đó không phục vụ người dân mà chỉ phục vụ chính sự tồn vong và lợi ích của bộ máy cầm quyền.

________________________________________

CHIẾN LƯỢC HƯỚNG NGƯỜI DÂN CHỈ LO LÀM ĂN, KHÔNG QUAN TÂM CHÍNH TRỊ

Hiện tượng định hướng người dân tập trung làm ăn, không quan tâm chính trị là một chiến lược quản trị kinh điển, được nghiên cứu sâu trong triết học chính trị, xã hội học và khoa học chính trị hiện đại, thường được mô tả bằng các cách gọi như "khế ước xã hội kiểu độc tài" (authoritarian social contract), "phi chính trị hóa" (depoliticization) hay "thờ ơ chính trị có hệ thống". Mô hình này vận hành như một giao dịch ngầm: chính quyền hứa hẹn cung cấp sự ổn định, an ninh trật tự, hạ tầng và cơ hội phát triển kinh tế cá nhân, đổi lại người dân chấp nhận rút lui khỏi không gian tranh luận chính trị, không thách thức bộ máy cầm quyền và nhường quyền quyết định tối cao cho tầng lớp trị vì.

Tư tưởng này phản ánh tinh thần của triết gia Thomas Hobbes trong tác phẩm Leviathan, xuất bản năm 1651: con người sẵn sàng giao nộp quyền tự do chính trị cho một thực thể quyền lực tuyệt đối để đổi lấy sự an toàn và trật tự, tránh khỏi cảnh chém giết lẫn nhau. Trường hợp điển hình trong lịch sử hiện đại là Singapore dưới thời Lý Quang Diệu, nơi một nhà nước quản trị kỹ trị vô cùng hiệu quả mang lại mức sống cao, hạ tầng hiện đại và sự an toàn tối đa cho người dân, nhưng không gian cho đối lập chính trị và tự do báo chí bị giới hạn chặt chẽ, quyền lực tích tụ vào tay đội ngũ chuyên gia và chính trị gia cai trị với lập luận rằng chính trị chuyên nghiệp nên để chuyên gia làm, còn dân chỉ cần làm tốt việc của mình.

Chiến lược này phục vụ nhiều mục tiêu cùng lúc cho tầng lớp cầm quyền.

Nó tối thiểu hóa chi phí quản trị và triệt tiêu nguy cơ phản kháng: một hệ thống chỉ có thể duy trì bằng cưỡng chế hoặc bằng sự đồng thuận, mà cưỡng chế thì tốn kém và dễ gây phẫn uất, trong khi khi người dân tự nguyện rút khỏi đời sống chính trị thì bộ máy cầm quyền đạt được sự tuân phục gần như miễn phí.

Nó giúp độc quyền hóa việc phân bổ tài nguyên và lợi ích, bởi khi đa số người dân tin rằng chính trị là việc của cấp trên, họ đã tự tay giao toàn bộ quyền quyết định tài nguyên xã hội cho một nhóm nhỏ, giúp tầng lớp cầm quyền và các nhóm lợi ích thân hữu tự do phân bổ tài sản quốc gia mà không gặp giám sát hay đòi hỏi minh bạch.

Nó chuyển hướng năng lượng xã hội vào tiêu dùng, kiếm tiền, thăng tiến cá nhân và giải trí, đúng như hình ảnh "bánh mì và rạp xiếc" mà nhà thơ trào phúng La Mã Juvenal dùng trong tác phẩm Satires khoảng năm 100 để phê phán việc dân chúng La Mã đánh mất quyền công dân và chỉ còn quan tâm đến lương thực miễn phí cùng các trò giải trí, khiến con người bận rộn tích lũy tài sản đến mức ít có thời gian hoài nghi hay phản kháng hệ thống.

Nó chia rẽ khối liên kết xã hội, khi tư duy "lo bản thân mình thôi" thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, triệt tiêu năng lực tự tổ chức của xã hội dân sự và biến xã hội thành các cá thể rời rạc không thể tạo thành lực lượng đối trọng với nhà nước.

Nó vô hiệu hóa khả năng phản biện và sửa lỗi của xã hội, bởi khi việc quan tâm chính trị bị gán nhãn là bao đồng hay rảnh rỗi, những câu hỏi về sự yếu kém, tham nhũng hay sai lầm chính sách bị loại bỏ, và sai phạm của bộ máy quản lý được bình dân hóa thành "chuyện của cấp trên đã có cấp trên lo", giúp những người làm sai tránh khỏi trách nhiệm giải trình.

Và mục đích sâu xa nhất là biến "công dân" - người nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ, hiểu rằng thuế mình đóng là để thuê bộ máy nhà nước phục vụ và có quyền đòi hỏi chất lượng dịch vụ công - thành "người bị trị", chỉ tập trung lao động, đóng thuế, tiêu dùng, tuân thủ luật lệ và chấp nhận mọi quyết định từ trên xuống mà không bao giờ đòi hỏi quyền kiểm soát.

Chiến lược này có thể tạo ra sự ổn định trong ngắn và trung hạn, nhưng gieo mầm cho những rủi ro cấu trúc trong dài hạn. Người dân rơi vào một bẫy an toàn giả tạo: khi không quan tâm chính trị, họ mất khả năng tự vệ trước những chính sách thay đổi bất lợi như thuế, giải tỏa đất đai hay lạm phát, và khi lợi ích cá nhân bị đụng chạm, họ không có công cụ pháp lý hay tổ chức nào để bảo vệ mình. Trách nhiệm dân sự suy thoái, khi xã hội hình thành tâm lý vô cảm trước bất công chung theo kiểu "chuyện của người khác, miễn không đụng đến mình là được", làm xói mòn lòng tin xã hội và giảm chất lượng đạo đức cộng đồng. Và hệ thống đối mặt với rủi ro cố định, khi thiếu phản biện từ người dân khiến bộ máy cầm quyền dễ rơi vào tình trạng mù điểm, tự mãn, tham nhũng nội bộ và trì trệ vì không có cơ chế tự sửa lỗi từ bên dưới.

Gần với tinh thần các phân tích của những nhà tư tưởng chính trị như Hannah Arendt về sự thờ ơ chính trị của "đám đông" trong xã hội toàn trị, có thể nói tư tưởng "không quan tâm chính trị" bản chất lại là một hành vi chính trị. Khi một cá nhân quyết định không quan tâm, họ thực chất đã bỏ phiếu cho trạng thái nguyên trạng và trao toàn bộ quyền kiểm soát cuộc sống của mình cho người khác, bởi giá xăng, tiền điện, chất lượng không khí, chương trình học của con cái hay mức thuế thu nhập đều là sản phẩm của các quyết định chính trị, nên việc không quan tâm đến chính trị không giúp một cá nhân đứng ngoài tầm ảnh hưởng của nó.

________________________________________

CÁC KỸ THUẬT THAO TÚNG NGÔN NGỮ ĐỨNG SAU NHỮNG CÂU NÓI QUEN THUỘC

Những phát ngôn như "ăn cơm nhà nói chuyện chính trị", "việc nhà chưa xong lo việc quốc gia", hay "dân quan tâm làm gì, có lãnh đạo lo rồi" không đơn thuần là câu nói dân gian, mà dưới góc độ khoa học chính trị, tâm lý học hành vi và ngôn ngữ học ứng dụng, đây là những kỹ thuật thao túng tâm lý và thao túng nhận thức được thiết kế hoặc vô tình lan truyền nhằm định hình hành vi cộng đồng.

Kỹ thuật đầu tiên là hiệu ứng khung nhận thức: đặt "cơm nhà, việc nhà" đối lập với "chính trị, việc quốc gia" tạo ra ảo tưởng rằng đây là hai thế giới hoàn toàn tách biệt, trong khi sự thật là bát cơm, cọng rau muống hay công việc làm ăn của một gia đình chính là sản phẩm của chính trị - giá phân bón, nguồn nước tưới, chi phí vận tải, thuế VAT trên từng ki-lô-gam rau, hay lạm phát làm mất giá đồng tiền mua cơm đều trực tiếp xuất phát từ các quyết định, luật lệ và chính sách của nhà nước, khiến người dân tin rằng mình đang "tự túc" trong khi thực chất mọi khía cạnh nhỏ nhất của đời sống riêng tư đều nằm trong một khung pháp lý và kinh tế do chính trị quy định.

Kỹ thuật thứ hai đánh vào cảm xúc xấu hổ và áp lực chuẩn mực nhóm: bằng cách gắn việc nói chuyện chính trị với hình ảnh tiêu cực như "rảnh rỗi", "bao đồng" hay "chưa lo nổi bản thân", nó tạo ra một sự kỳ thị xã hội khiến một cá nhân muốn tìm hiểu hay thảo luận về chính sách công sẽ tự cảm thấy có lỗi, tự hoài nghi năng lực bản thân, hoặc sợ bị gán nhãn là "kẻ điên rồ, thất nghiệp", từ đó vô hiệu hóa động lực phản biện ngay từ trong tư tưởng.

Kỹ thuật thứ ba là cài cắm tâm lý bất lực đã học tập nhiễm, khái niệm "learned helplessness" của nhà tâm lý học Martin Seligman: câu nói "dân quan tâm làm gì, có thay đổi được gì đâu" là ứng dụng trực tiếp của khái niệm này, khi bộ máy tuyên truyền lặp đi lặp lại thông điệp rằng người dân không có quyền lực và sự tham gia của họ là vô ích, khiến họ tin rằng mình hoàn toàn không có khả năng tác động đến thực tại, từ đó rơi vào trạng thái thụ động và triệt tiêu mọi nỗ lực tìm hiểu hay đòi hỏi minh bạch.

Kỹ thuật thứ tư là huyền thoại hóa tầng lớp lãnh đạo, hay ngụy biện giao khoán trách nhiệm: phát ngôn "đã có lãnh đạo, nhà nước lo" ngụy tạo hình ảnh tầng lớp quản lý như những chuyên gia siêu việt hay bậc cha mẹ có đủ tri thức và lòng tốt tuyệt đối để lo cho tất cả mọi người, trong khi trong khoa học quản trị không có một cá nhân hay nhóm chuyên gia nào có đủ thông tin để đưa ra quyết định hoàn hảo cho hàng triệu người mà không cần cơ chế phản hồi từ dưới lên, và khi cắt bỏ sự giám sát của người dân, hệ thống quản trị mất đi kênh phát hiện lỗi, dẫn đến tham nhũng, lãng phí và chính sách xa rời thực tế.

Nghiên cứu về lý thuyết kiểm soát xã hội tóm gọn mục đích của chuỗi tuyên truyền này qua ba bước nối tiếp: trước hết cô lập tư duy bằng thông điệp "chính trị không liên quan đến bạn", sau đó khơi gợi tự ti bằng thông điệp "chưa lo xong thân, nói chuyện lớn làm gì", và cuối cùng đạt được sự phi chính trị hóa, biến người dân thành lực lượng lao động thuần túy, dễ quản lý. Bản chất của các câu nói này là biến công dân - người có quyền và nghĩa vụ đối với quốc gia - thành người tiêu dùng hoặc người lao động thuần túy, chỉ biết làm việc, đóng thuế, tiêu dùng và tuân thủ mà không đặt câu hỏi về cách tài nguyên và quyền lực của mình đang được sử dụng.

________________________________________

VÌ SAO NGƯỜI XƯA DỄ CHẤP NHẬN LẠM QUYỀN HƠN NGƯỜI HIỆN ĐẠI

Con người trong các xã hội phong kiến hay độc tài nghèo khổ thường dễ chấp nhận sự lạm quyền của tầng lớp cai trị hơn con người trong xã hội hiện đại sung túc, và sự khác biệt này xuất phát từ những nguyên nhân cấu trúc chứ không phải vì người xưa "ngoan ngoãn" hay "thiện lành" hơn. Nguyên nhân thứ nhất nằm ở vị trí trên tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow: trong các xã hội phong kiến hay độc tài nghèo khổ, đại đa số dân chúng nằm ở tầng đáy của tháp nhu cầu, tức nhu cầu sinh học về ăn, mặc, ở và tồn tại, nên khi một người phải vật lộn từng ngày để có đủ cái ăn cho gia đình, toàn bộ năng lượng và sự chú ý của họ bị chiếm trọn bởi việc sống sót, không còn dư thời gian, tri thức hay tài chính để nghĩ đến những khái niệm như quyền con người, sự bình đẳng hay công lý. Trong xã hội hiện đại sung túc, khi các nhu cầu cơ bản đã được thỏa mãn, con người chuyển sang đòi hỏi những nhu cầu cấp cao hơn như được tôn trọng, được tự do và được thể hiện bản thân, đồng thời có "vốn dự trữ" về tiền tiết kiệm, thời gian rảnh và mạng lưới xã hội để chấp nhận rủi ro khi đấu tranh.

Nguyên nhân thứ hai được nhà tư tưởng người Pháp Alexis de Tocqueville chỉ ra khi nghiên cứu Cách mạng Pháp, trong tác phẩm Chế độ cũ và Cách mạng xuất bản năm 1856: sự bất bình đẳng hay lạm quyền không gây ra phản kháng mạnh nhất khi nó ở mức tồi tệ nhất, mà thường bùng nổ khi điều kiện xã hội bắt đầu được cải thiện, vì khi đó nguyện vọng của người dân tăng nhanh hơn tốc độ đáp ứng thực tế của chính quyền, hiện tượng sau này được gọi là nghịch lý Tocqueville hay "cách mạng của những kỳ vọng gia tăng". Trong chế độ phong kiến, nghèo khổ và lạm quyền được xem là trạng thái tự nhiên vì người dân chưa từng biết đến một xã hội tốt đẹp hơn để so sánh, nên họ coi sự áp bức là điều hiển nhiên phải chấp nhận, còn trong xã hội hiện đại, khi mức sống tăng lên và thông tin mở rộng, khoảng cách giữa những gì người dân nghĩ mình xứng đáng nhận được và những gì chính quyền thực sự đáp ứng tạo ra sự phẫn nộ tương đối.

Nguyên nhân thứ ba nằm ở cấu trúc niềm tin về tính chính đáng của quyền lực. Trong xã hội phong kiến hay độc tài nghèo, quyền lực được biện hộ bằng thần quyền hay thiên mệnh, vua được xem là "thiên tử", quan lại là "dân chi phụ mẫu", nên sự lạm quyền được lý giải là do ý trời hoặc quyền của bậc cha mẹ, và người dân tự xem mình là thần dân, người thụ hưởng ơn huệ, còn thuế là khoản cống nộp bắt buộc cho chủ nhân đất nước. Trong xã hội hiện đại, quyền lực được hiểu theo khế ước xã hội, chính quyền chỉ là bên được dân bầu hoặc ủy quyền để làm việc và lạm quyền là vi phạm hợp đồng, nên người dân tự xem mình là công dân, người đóng thuế và là chủ tài sản công, còn thuế là khoản tiền mua dịch vụ quản lý mà họ có quyền đòi hỏi chất lượng tương ứng.

Nguyên nhân thứ tư là sự chênh lệch tuyệt đối về chi phí phản kháng và khả năng tổ chức. Trong chế độ xưa, chi phí phản kháng cực cao khi những tội như chống đối hay khi quân thường dẫn đến án tử hình hoặc diệt tộc, trong khi xã hội bị cô lập vì thiếu phương tiện liên lạc khiến người dân làng này không biết làng khác đang chịu đựng điều gì và không thể liên kết thành lực lượng. Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của Internet, mạng xã hội và truyền thông khiến chi phí chia sẻ thông tin gần như bằng 0, có thể biến sự lạm quyền của một quan chức địa phương nhỏ thành làn sóng phẫn nộ trên toàn quốc chỉ sau vài giờ, đồng thời sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu đông đảo - vừa có tri thức, vừa có phương tiện, vừa có động lực cao để bảo vệ tài sản và tự do của mình - tạo ra một lực lượng phản kháng mà xã hội phong kiến chưa từng có.

________________________________________

KHÔNG PHẢI QUỐC GIA NÀO CŨNG THAO TÚNG NHƯ NHAU

Trong khoa học chính trị và xã hội học, việc đánh giá một kỹ thuật thao túng nhận thức là tốt hay xấu không dựa trên đạo đức thuần túy, mà dựa trên hiệu quả quản trị ngắn hạn so với chi phí và rủi ro cấu trúc dài hạn.

Ở khía cạnh bị đánh giá là tiêu cực dưới góc độ phát triển bền vững và quyền con người, chiến lược này triệt tiêu năng lực tự sửa lỗi của hệ thống: khi người dân bị thao túng để không quan tâm hay phản biện, chính quyền mất đi kênh phản hồi thực tế, khiến các chính sách sai lầm, tham nhũng hay xói mòn hiệu lực quản trị không được phát hiện kịp thời, dẫn đến khủng hoảng tích tụ ngầm. Nó tạo ra trạng thái bất an cấu trúc cho cá nhân: người dân tưởng mình an toàn khi chỉ lo làm ăn, nhưng vì thiếu công cụ chính trị và pháp lý để giám sát quyền lực, tài sản và quyền lợi của họ có thể bị tước đoạt bất kỳ lúc nào bởi các quyết định hành chính duy ý chí mà không thể tự vệ. Và nó làm suy thoái chất lượng vốn xã hội, khi sự vô cảm, bất tín lẫn nhau và tâm lý "chuyện ai nấy lo" làm suy yếu tính liên kết cộng đồng, biến xã hội thành tập hợp các cá thể rời rạc, dễ bị tổn thương trước biến động.

Mức độ và bản chất của việc thao túng nhận thức chính trị khác biệt rất lớn giữa các quốc gia. Theo Chỉ số Dân chủ của tổ chức Economist Intelligence Unit và các nghiên cứu về truyền thông đại chúng, sự thao túng phân hóa rõ rệt tùy thuộc vào cấu trúc hệ thống chính trị và cơ chế phân bổ quyền lực: ở các mô hình toàn trị hay độc tài, thao túng mang tính đơn hướng và độc quyền, đẩy người dân ra khỏi chính trị, còn ở các mô hình dân chủ đại diện, thao túng mang tính đa hướng và cạnh tranh, lôi kéo người dân vào các phe chính trị khác nhau.

Ở các chế độ độc tài hoặc toàn trị, mức độ thao túng rất cao và mang tính độc quyền. Chính quyền kiểm soát toàn bộ báo chí, truyền thông nhà nước và giáo dục để phát đi một thông điệp duy nhất rằng chính trị phức tạp, đã có nhà nước lo, dân chỉ cần làm ăn, đồng thời hình sự hóa hoặc dán nhãn tiêu cực đối với các hoạt động chính trị nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước. Mục tiêu là phi chính trị hóa quần chúng, biến công dân thành lực lượng lao động thuần túy và thụ động.

Ở các chế độ dân chủ đại diện, mức độ thao túng ở khoảng trung bình đến cao nhưng mang tính cạnh tranh. Chính quyền không thể cấm đoán người dân bàn luận chính trị, nên thay vào đó các đảng phái, tập đoàn truyền thông và các nhóm lợi ích vận động hành lang sử dụng kỹ thuật "sản xuất sự đồng thuận", khái niệm do Noam Chomsky và Edward Herman đưa ra trong tác phẩm Manufacturing Consent năm 1988, để thao túng người dân bầu cho phe của mình. Thao túng ở đây không phải là bảo dân đừng quan tâm chính trị, mà là dẫn dắt họ quan tâm theo hướng có lợi cho một phe phái cụ thể, thông qua truyền thông cánh tả đối lại truyền thông cánh hữu, với mục tiêu tối đa hóa phiếu bầu và bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị của phe cầm quyền.

Sự khác biệt này bắt nguồn từ ba yếu tố nền tảng.

Yếu tố thứ nhất là nguồn gốc tính chính đáng của quyền lực: ở quốc gia độc tài, tính chính đáng dựa trên thành quả như tăng trưởng kinh tế hay giữ gìn trật tự, nên họ cần dân đứng ngoài chính trị để bộ máy tự do vận hành, trong khi ở quốc gia dân chủ, tính chính đáng dựa trên quy trình bầu cử, nên họ buộc phải lôi kéo người dân tham gia chính trị hoặc ít nhất là đi bầu.

Yếu tố thứ hai là sự tồn tại của báo chí độc lập và xã hội dân sự: nơi nào có môi trường truyền thông đa nguyên và các tổ chức độc lập, sự thao túng của chính quyền dễ bị bóc tách và phản biện, còn nơi nào nhà nước nắm độc quyền hạ tầng thông tin, sự thao túng diễn ra gần như tuyệt đối và không gặp lực cản.

Yếu tố thứ ba là cơ chế kiểm soát và cân bằng: sự phân chia giữa tư pháp, hành pháp và lập pháp hạn chế khả năng một nhóm duy nhất áp đặt toàn bộ khung nhận thức lên xã hội, và khi thiếu cơ chế phân quyền, thao túng nhận thức trở thành công cụ cai trị mặc định.

Cre: Thuy My

reddit.com
u/AnotherPersonality8 — 1 month ago

Xà phòng thời trung cổ

Ở Châu Âu thời Trung cổ, nếu bạn cần một buổi tắm gội sạch sẽ, bạn sẽ nhận được một cục xà phòng màu xám xịt, mềm nhão và thoang thoảng mùi mỡ động vật ôi thiu nếu người thợ làm không khéo.

Chúng ta vẫn thường mang một định kiến rằng thời Trung cổ là một kỷ nguyên lấm lem bùn đất. Thực tế thì con người thời kỳ đó vẫn giặt giũ và tắm rửa, chỉ có điều công nghệ hóa chất của họ được xây dựng trên những nguyên liệu thô mộc và nghe có vẻ đầy tính hủy diệt: chất béo, chất kiềm và nước.

Để làm ra một mẻ xà phòng, người thời Trung cổ phải vào vai một "nhà giả kim" thực thụ (nếu không bị đốt). Bắt đầu bằng việc thu gom tro gỗ từ những bếp lửa hằng ngày. Tro được trút vào nước sôi, khuấy mạnh rồi để lắng trọn một ngày ròng rã. Phản ứng chậm chạp ấy tạo ra nước kiềm (lye), một dung dịch có tính ăn mòn, đóng vai trò là chiếc chìa khóa để phá vỡ cấu trúc chất béo.

Khi dung dịch nước kiềm đã lắng xong, nước kiềm được trút vào một chiếc vạc lớn đun sôi sùng sục, và nguyên liệu chính tiếp theo được thêm vào: chất béo, thường là mỡ động vật hoặc các loại dầu.

Từ khoảnh khắc mỡ chạm vào kiềm nóng, người thợ phải cầm một chiếc muôi gỗ, khuấy liên tục không ngơi tay để hai loại chất lỏng vốn bài xích nhau này hòa làm một. Đứng cạnh một chiếc vạc sôi ngùn ngụt, hít thở thứ hơi nước hăng hắc, đó rõ ràng không phải là một công việc nhàn hạ.

Nhưng xà phòng thời kỳ đầu không tự nhiên mà có độ cứng. Trong quá trình khuấy, người thợ nêm nếm vào vạc như đang nấu một nồi súp khổng lồ: một ít bột mì và một chút muối. Bột mì đóng vai trò cải thiện kết cấu hỗn hợp, trong khi muối giúp xà phòng kết tủa, cứng lại và dễ tạo hình hơn.

Họ sẽ miệt mài khuấy cho đến khi hỗn hợp đạt đến độ đặc hoàn hảo. Khi lưỡi muôi rẽ qua lớp sệt, nếu đáy vạc loáng thoáng hiện ra trong tích tắc trước khi hỗn hợp tràn lại lấp đầy, đó là lúc vạc cần được nhấc ngay khỏi ngọn lửa.

Thứ chất lỏng nóng rẫy và đặc quánh sau đó được rót cẩn thận vào những chiếc khuôn đã được làm ẩm sẵn, đặt yên vị trên một mặt phẳng. Xà phòng phải được để khô và cứng lại một cách tự nhiên. Sau khi đủ thời gian để quá trình hóa học hoàn tất và nước bay hơi, thành phẩm cuối cùng là một bánh xà phòng rắn, sẵn sàng làm nhiệm vụ gột rửa.

Nhưng đừng vội hình dung người châu Âu Trung cổ sáng nào cũng đứng trước chậu rửa mặt, tay cầm bánh xà phòng thơm trắng như quảng cáo mỹ phẩm. Xà phòng thời ấy có một khách hàng quan trọng hơn rất nhiều: ngành dệt.

Len vừa lấy từ cừu chứa nhiều mỡ tự nhiên và bụi bẩn; trước khi nhuộm và xử lý, nó cần được tẩy rửa. Ở Anh thế kỷ XIII, nghề làm xà phòng đã tập trung tại những thành phố như Bristol, Coventry và London. Nhu cầu về tro gỗ — nguồn kiềm quan trọng — lớn tới mức việc sản xuất xà phòng còn gắn với áp lực lên nguồn gỗ.

Tất nhiên, giới quý tộc châu Âu không chịu dùng mãi những bánh xà phòng xám xịt hôi mùi mỡ. Theo thời gian, khi kỹ thuật chế tác được nâng tầm, xà phòng dần trở nên cứng cáp và trơn láng hơn. Ở phía nam châu Âu, câu chuyện lại có mùi dễ chịu hơn một chút. Tây Ban Nha, Pháp và Ý có dầu ôliu cùng các loại tro thực vật giàu kiềm, nên những trung tâm như Castile và Marseille nổi tiếng với xà phòng từ dầu thực vật. Trong khi miền bắc thường dựa nhiều hơn vào mỡ động vật, vùng Địa Trung Hải có điều kiện tạo ra những bánh xà phòng cứng, sáng màu và về sau còn được thêm hương liệu.

Thú vị nhất có lẽ là người làm ra chúng chưa biết thứ đang diễn ra trong nồi là hóa học. Họ biết tro nào tốt. Biết mỡ phải thắng đến đâu. Biết hỗn hợp phải đặc thế nào. Biết khi nào cần thêm kiềm và lúc nào nên nhấc nồi khỏi lửa.

Khoa học giải thích xà phòng đến rất lâu sau đó. Còn người Trung cổ thì đã đứng bên cái vạc, cầm que khuấy và làm nó thành công từ nhiều thế kỷ trước - tất cả đến từ một nhà giả kim may mắn không bị đốt.

Cre: Thế giới ngày xưa không nhạt lắm

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Chúng ta đã hiểu sai về tháp nhu cầu Maslow trong suốt bao nhiêu năm qua?

Một video hay về tháp nhu cầu Maslow và nó đã cho mình những góc nhìn mới về động lực con người.

Nếu bạn từng học kinh tế, tiếp thị hay tâm lý học, chắc chắn bạn đã thấy hình ảnh chiếc kim tự tháp 5 tầng này được dùng để giải thích mọi hành vi của chúng ta.

Vậy chúng ta hiểu sai ở đâu? Dành ra 2p để đọc nhanh những ghi chép này từ mình nhé 👇

~

Sự thật đầu tiên là nhà tâm lý học Abraham Maslow chưa từng vẽ bất kỳ chiếc tháp nào trong suốt các nghiên cứu của mình kể từ bài báo xuất bản năm 1943.

Chiếc tháp mà chúng ta thấy ở khắp mọi nơi thực chất được vẽ ra vào thập niên 60 bởi một nhà tư vấn quản trị tên là Charles McDermid nhằm mục đích đơn giản hóa lý thuyết cho các doanh nghiệp dễ áp dụng.

Sự tiện lợi này vô tình làm xơ cứng một lý thuyết vốn dĩ rất uyển chuyển và sâu sắc của Maslow.

Trong nghiên cứu gốc mang tên “học thuyết về động lực của con người”, Maslow không bắt đầu bằng việc hỏi con người cần gì, mà ông đi tìm nguyên nhân thực sự thúc đẩy các hành động của chúng ta.

Cùng một hành động đi làm mỗi ngày, một người có thể vì cần tiền trả tiền nhà, nhưng người khác lại vì muốn chứng minh sự thành công với gia đình.

Hành vi bên ngoài không thể giải thích được động lực bên trong, và đằng sau hành vi đó là những nhóm nhu cầu cơ bản có thứ tự ưu tiên tương đối.

~

Maslow đã chỉ ra có ít nhất 5 nhóm mục tiêu cơ bản bao gồm sinh lý, an toàn, tình yêu thương, được tôn trọng và tự hiện thực hóa.

Việc ông dùng từ ít nhất cho thấy con người có thể còn có nhiều hơn 5 nhóm nhu cầu này.

Trong đó, nhu cầu tự hiện thực hóa là tầng hay bị hiểu lầm nhất khi nhiều người nghĩ nó đồng nghĩa với việc trở nên thành công hay đạt địa vị cao nhất.

Thực chất, Maslow định nghĩa rằng một người có khả năng trở thành điều gì thì họ phải trở thành điều đó, ví dụ như một nhạc sĩ thì phải làm nhạc hay một họa sĩ thì phải vẽ.

Đến một lúc nào đó, con người không còn khao khát việc có thêm thứ gì, mà họ được thôi thúc bởi việc phát triển năng lực để trở thành phiên bản trọn vẹn nhất mà tiềm năng của họ cho phép.

~

Video cũng chỉ ra 3 hiểu lầm kinh điển mà hầu hết chúng ta đều mắc phải khi ứng dụng mô hình này vào thực tế.

  1. Chúng ta tin rằng con người phải leo từng bậc thang, phải giàu có và ổn định trước rồi mới được phép theo đuổi đam mê.

Sự thật là các nhu cầu tồn tại dưới dạng ưu tiên tương đối, nghĩa là khi bạn đang quá đói thì nhu cầu ăn uống sẽ lấn át khao khát thay đổi thế giới, nhưng không có nghĩa là khát vọng kia đã biến mất.

Con người không bao giờ hoàn thành trọn vẹn 100% nhu cầu cấp thấp rồi mới bước lên cấp cao, mà chúng ta luôn ở trạng thái được thỏa mãn một phần và thiếu hụt một phần ở tất cả các tầng cùng một lúc.

  1. Việc gán ghép một hành vi chỉ với một nhu cầu duy nhất

Nhiều người nghĩ rằng mua xe hơi là để thỏa mãn nhu cầu tôn trọng, nhưng thực tế phần lớn hành vi của con người được thúc đẩy bởi rất nhiều động cơ khác nhau.

Việc cố gắng mua một chiếc điện thoại đắt tiền hoàn toàn có thể vừa phục vụ nhu cầu sinh tồn, vừa đáp ứng nhu cầu kết nối xã hội và cả vấn đề thể diện.

  1. Cho rằng thứ tự của các nhu cầu luôn giống hệt nhau đối với tất cả mọi người trên thế giới theo đường thẳng từ dưới lên trên.

Thực tế luôn có sự đảo ngược, chẳng hạn như một chiến sĩ sẵn sàng hy sinh mạng sống vì lý tưởng, nghĩa là họ đặt nhu cầu tự hiện thực hóa cao hơn cả nhu cầu an toàn sinh tồn.

Hoặc khi đối mặt với phá sản và mất kết nối cộng đồng, nhiều người thậm chí đánh mất luôn cả nhu cầu ăn uống cơ bản.

~

Nghiên cứu của giáo sư Linda Gratton cũng chứng minh rằng tầng lớp lao động nghèo vẫn có nhu cầu rất cao về mặt tinh thần, xã hội và khẳng định bản thân chứ không chỉ quanh quẩn với việc lo cái ăn cái mặc.

Bài học quý giá nhất rút ra là chúng ta không phải những sinh vật đơn giản chỉ biết leo từng bậc thang vật chất rồi mới dám nghĩ đến những giá trị sáng tạo hay ý nghĩa của cuộc đời.

Thay vì tự hỏi bản thân đang đứng ở tầng nào của tháp, chúng ta nên tự hỏi điều gì đang thực sự thúc đẩy mình lúc này và mình có đang trở thành con người mà bản thân có khả năng trở thành hay không.

Cre: Nguyen Duc Manh

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Chiếc áo giúp 'né' camera AI giám sát

Nhà thiết kế Đức Simon Weckert tạo ra áo sơ mi với sự kết hợp màu và họa tiết độc đáo, khiến camera giám sát sử dụng AI không thể nhận diện.

Mẫu áo có tên Digital Camouflage (ngụy trang kỹ thuật số), ra đời nhằm ứng phó với dự án thí điểm hệ thống giám sát video AI tại Kottbusser Tor, Berlin, bắt đầu trong tháng 8. Design Boom cho biết, áo được sản xuất tại Latvia với chất liệu gồm 65% polyester tái chế và 35% polyester.

Nhà thiết kế Simon Weckert cho biết người mặc sẽ không bị camera nhận diện là một cá nhân. Theo ông, hệ thống AI được tạo từ nhiều lớp và không thực sự hiểu bản chất, mà chỉ học hình dáng con người dựa trên thống kê từ hàng triệu hình ảnh huấn luyện.

"Những lớp đầu tiên là đường viền, độ tương phản và sự chuyển đổi kết cấu, sâu hơn là mẫu hình giống bộ phận như hình dáng đầu và vai, tỷ lệ chi so với thân, sự liền mạch của đường viền cơ thể so với nền phía sau", ông giải thích với Dezeen. "Với máy móc, 'người' chỉ là tập hợp những số liệu thống kê hình ảnh. Đó chính là điểm yếu của chúng".

Chiếc áo Digital Camouflage kết hợp họa tiết với màu sắc rực rỡ để đánh lừa AI, khiến hệ thống không nhận ra thứ chúng đang quan sát là con người. Sự chuyển đổi màu sắc bão hòa tạo tín hiệu mạnh ở những lớp đầu tiên của hệ thống quan sát, trong khi họa tiết chồng chéo phá vỡ tính liên tục của đường viền cơ thể, khiến bộ dò không thể liên kết các bộ phận thành một người.

"Với con người, nó trông gần như một loại vải có tính thôi miên, còn với mô hình AI, nó chẳng là gì cả", Weckert cho hay.

Áo Digital Camouflage giúp người mặc không bị camera AI nhận diện. Ảnh: Simon Weckert Xem toàn màn hình

Áo Digital Camouflage giúp người mặc không bị camera AI nhận diện. Ảnh: Simon Weckert

Điều thú vị là để thiết kế họa tiết áo, Weckert cũng sử dụng AI. Ông thử nghiệm nhiều phiên bản theo phương pháp "vòng lặp đối kháng" với chính hệ thống camera nhận diện. Đầu tiên, ông tạo một "ứng viên họa tiết", đưa ra trước camera, đo lường khả năng nhận diện, sau đó điều chỉnh và lặp lại quá trình đến khi khả năng nhận diện biến mất.

Theo Futurism, Weckert tự xưng là "phù thủy kỹ thuật số thời hiện đại", từng gây chú ý lớn vào năm 2020 khi dùng xe kéo chất đầy smartphone, tạo ra vụ tắc đường giả trên đường phố Berlin và đánh lừa Google Maps.

Cre: Minh Duc

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Tương lai đáng báo động của khoảng 2 tỉ người

Liên quan đến thảm kịch xảy ra hôm qua tại Nepal: hình ảnh vệ tinh cho thấy một mảng lớn của sông băng đã tách ra từ độ cao 5.200 mét, lao xuống thung lũng với độ cao chênh lệch khoảng 1.200 mét và cuốn phăng mọi thứ trên đường đi.

Các dãy núi đóng vai trò như những tháp chứa nước khổng lồ. Vào mùa đông, chúng tích trữ nước dưới dạng băng tuyết. Đến mùa hè, lượng băng tuyết này tan chảy từ từ và đổ vào các dòng sông, đúng vào thời điểm lượng mưa thấp nhất trong năm.

Tình trạng nóng lên toàn cầu đang dần phá hủy “tháp nước” này. Quá trình đó diễn ra qua ba giai đoạn với những đặc điểm hoàn toàn khác biệt.

Giai đoạn đầu tiên là lũ lụt. Không khí ấm giữ được nhiều hơi ẩm hơn, nghĩa là khi mưa trút xuống, cường độ mưa sẽ mạnh hơn rất nhiều.

Khi sông băng bắt đầu tan, nước tích tụ tại các hồ nằm ngay trước sông băng, được ngăn giữ bởi các đê băng tích (moraine)—những gò đống gồm sỏi đá, mảnh vụn và băng do sông băng để lại.

Những con đập tự nhiên này vốn không ổn định. Chỉ cần một cơn chấn động nhẹ, một vụ sạt lở đất, hay đơn giản là nước tràn qua bờ cũng đủ khiến hồ bị vỡ, tạo thành một khối nước, bùn và đá khổng lồ ào ạt đổ xuống thung lũng. Dãy Himalaya có hàng ngàn hồ nước như vậy, và số lượng này đang tăng lên hàng năm khi các sông băng tan chảy.

Giai đoạn thứ hai là thời điểm "đỉnh lưu lượng nước" (peak water). Khi các sông băng tan chảy mạnh, lưu lượng nước sông sẽ tăng lên. Tuy nhiên, sông băng không phải là vô tận. Một khi chúng tan hết, nguồn cung cấp nước cũng sẽ cạn kiệt.

Vào năm 2018, hai nhà nghiên cứu sông băng là M. Huss và R. Hock đã chứng minh rằng hầu hết các vùng núi trên thế giới hoặc đã đi qua thời điểm đỉnh lưu lượng nước, hoặc đang trải qua giai đoạn này. Tại dãy Alps, đỉnh điểm này có lẽ đã qua, còn tại dãy Himalaya, nó đang diễn ra ngay lúc này.

Tiếp đó là giai đoạn thứ ba: hạn hán. Sông băng đã biến mất. Lớp tuyết phủ trở nên không ổn định—mưa xuất hiện ngày càng nhiều vào mùa đông tại những nơi từng có tuyết rơi. Tuyết thì tích tụ lại, trong khi nước mưa lại chảy đi ngay lập tức.

Hệ quả là mực nước sông dâng cao vào mùa xuân nhưng lại xuống rất thấp vào mùa hè và mùa thu, do không còn tuyết để tan chảy nữa. Ngành nông nghiệp, vốn từ lâu phụ thuộc vào nguồn nước tưới tiêu mùa hè từ các con sông bắt nguồn từ sông băng, nay lại rơi vào cảnh thiếu nước đúng vào những tháng quan trọng nhất đối với năng suất cây trồng.

Các vùng núi đang nóng lên nhanh gấp hai đến ba lần so với mức trung bình toàn cầu. Nguyên nhân là do tuyết trắng phản xạ ánh sáng mặt trời trong khi đá sẫm màu lại hấp thụ nhiệt. Càng ít tuyết, núi càng nóng lên nhanh chóng.

Các con sông Hằng, Ấn, Dương Tử, Mê Kông và Amu Darya đều chủ yếu dựa vào nguồn nước tan từ các dòng sông băng trong mùa khô. Cuộc sống của khoảng hai tỷ người phụ thuộc vào hệ thống này.

Cre: Phan Phuong Dat

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Tây Ban Nha và nghịch lý của nước ăn theo trong hệ thống Châu Âu.

Có thực sự ăn theo không ?

Khi nhìn vào bản đồ kinh tế châu Âu, rất dễ nảy sinh cảm giác rằng một số quốc gia, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, hay các nước Đông Âu, chỉ đang hưởng lợi nhờ nằm sát vách các đầu tàu như Đức, Pháp. Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy, và sự phân biệt giữa "ăn theo" và "có nền tảng" thực ra là một phân biệt sai.

Lấy Tây Ban Nha làm ví dụ. Nhiều người nghĩ họ giàu lên nhờ bãi biển và du lịch. Thực tế, Tây Ban Nha thường nằm trong top 3-4 nước sản xuất ô tô nhiều nhất châu Âu theo số lượng xe mỗi năm, cạnh Đức, Pháp và Ý. Dù các thương hiệu như SEAT thuộc sở hữu của Volkswagen, toàn bộ hệ sinh thái phụ tùng, nhà máy lắp ráp và lực lượng kỹ sư của họ vận hành theo tiêu chuẩn cực cao.

Iberdrola là một trong những tập đoàn năng lượng tái tạo lớn nhất thế giới, thường xuyên trúng thầu các dự án đường sắt cao tốc và tàu điện ngầm từ Mỹ đến Trung Đông. Inditex, tập đoàn sở hữu Zara và Massimo Dutti, đã định hình lại toàn bộ mô hình logistics và bán lẻ thời trang toàn cầu. Đây không phải là dịch vụ thụ động, mà là năng lực công nghiệp và tổ chức thực sự.

Điều quan trọng hơn là hiểu bản chất của sự phân công lao động trong châu Âu. Đây là mô hình cộng sinh, không phải ký sinh.

- Đức và Pháp nắm R&D, thiết kế, quản trị thương hiệu và tài chính.

- Tây Ban Nha và miền Bắc Italy sản xuất linh kiện phức tạp và lắp ráp chất lượng cao. Đông Âu, gồm Ba Lan và Séc, cung cấp chi phí tối ưu và logistics trung chuyển.

Nếu Đức là bộ não thì Tây Ban Nha là cơ bắp chất lượng cao. Nếu không có hệ thống tay nghề, hạ tầng kết nối và môi trường pháp lý minh bạch của các nước này, các tập đoàn Đức không thể tối ưu hóa chi phí để cạnh tranh với Mỹ hay Trung Quốc.

Hàn Quốc như một mốc so sánh.

Lý do Nhật Bản và Hàn Quốc trông có vẻ "thành công về cấu trúc" hơn là vì họ xây dựng theo mô hình Chaebol và Keiretsu, tự chủ từ gốc đến ngọn. Hàn Quốc như một ốc đảo về địa kinh tế, phía bắc bị chặn bởi Triều Tiên và xung quanh là biển, không có một láng giềng giàu có nào để nương tựa. Họ bắt buộc phải tự xây toàn bộ hệ sinh thái từ R&D đến sản phẩm đầu ra, từ con chip đến cái tàu thủy. Samsung, Hyundai, LG, SK Hynix là những cơ bắp lộ ra ngoài, nhìn vào ai cũng thấy ngay.

Các nước Nam Âu và Tây Âu không cần đi theo con đường đó vì họ có một thứ mà Hàn Quốc không có: thị trường chung châu Âu. Tây Ban Nha không cần một tập đoàn điện thoại đủ sức đánh lại Samsung. Họ có thể chọn trở thành nhà cung cấp độc quyền một loại linh kiện cơ khí chính xác trong máy sản xuất chip, hoặc trở thành nhà xuất khẩu dầu ô liu lớn nhất thế giới. Mắt xích thay vì tổng thể là một chiến lược hoàn toàn hợp lý khi đứng trong một chuỗi cung ứng không biên giới.

Nếu xét thuần túy về động lực kinh tế, lợi thế tích hợp địa chính trị, tức là lợi thế từ việc nằm trong hệ sinh thái châu Âu, chiếm khoảng 60% thành công của các nước như Tây Ban Nha, còn ở Hàn Quốc tỷ trọng tự chủ cấu trúc và thương hiệu quốc gia lên tới 90%. Nếu bốc Tây Ban Nha đặt vào vị trí địa lý của Hàn Quốc, nền kinh tế họ sẽ gặp khủng hoảng ngay lập tức vì cấu trúc của họ không được thiết kế để chiến đấu độc lập.

Ngành ô tô, một trong những trụ cột công nghiệp chế tạo và xuất khẩu lớn nhất của Tây Ban Nha, phần lớn thuộc sở hữu nước ngoài. Nếu mất đi chuỗi cung ứng chung EU, các tập đoàn Đức và Pháp sẽ rút nhà máy về nước hoặc chuyển sang Đông Âu ngay lập tức.

Nền kinh tế dịch vụ chiếm hơn 70% GDP của Tây Ban Nha, với lõi là du lịch và bất động sản. Mỗi năm nước này đón lượng khách du lịch gần gấp đôi dân số của họ, chủ yếu là người Anh, Đức, Pháp. Đây là thứ chỉ thịnh vượng khi hàng xóm giàu và biên giới mở cửa, và sẽ sụp đổ một nửa chỉ trong vài năm nếu đứng độc lập. Ngược lại, công nghiệp chế tạo chiếm gần 30% GDP của Hàn Quốc, một tỷ lệ cực cao đối với một nước phát triển, cho thấy năng lực tạo ra của cải vật chất từ thô đến tinh của họ mạnh đến mức nào.

Sự khác biệt về mức độ phụ thuộc bên ngoài cũng phản ánh qua chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Vì xung quanh toàn đối thủ mạnh như Trung Quốc và Nhật Bản, cùng mối đe dọa thường trực từ Triều Tiên, Hàn Quốc sống trong trạng thái thường trực của một hội chứng lo âu sinh tồn. Nhà nước và các Chaebol đổ hàng chục tỷ USD vào R&D, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về tỷ lệ chi cho R&D trên GDP.

Tây Ban Nha, nằm dưới chiếc ô an ninh của NATO và chiếc ô kinh tế của EU, không có áp lực sinh tử kiểu đó. Chi cho R&D của họ chỉ tương đương một phần nhỏ so với Hàn Quốc, và giới trẻ có xu hướng chọn làm công chức, làm dịch vụ hay mở nhà hàng hơn là lao vào các ngành công nghệ đầy rủi ro.

Tuy nhiên, 40% còn lại, phần mà Hàn Quốc thiếu, là thứ các nước Tây Âu tầm trung hoàn toàn tự có: thể chế pháp luật được hoàn thiện qua hàng trăm năm, hệ thống an sinh xã hội mạnh, doanh nghiệp vừa và nhỏ làm xương sống thay vì phụ thuộc vào một vài tập đoàn độc quyền, và vốn tích lũy tài sản qua nhiều thế hệ. Đây là lý do họ giữ được sự thịnh vượng dài hạn dù không có Samsung hay Hyundai.

Hình ảnh dễ nhất để nắm bắt sự khác biệt này là so sánh Hàn Quốc với một chiến binh độc hành được rèn luyện trong khắc nghiệt, cơ bắp cuồn cuộn, có thể ném vào bất kỳ khu rừng rậm nào cũng sống sót. Tây Ban Nha giống một vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp trong một đội đua, đạp rất nhanh và kỹ thuật rất tốt, nhưng có đồng đội cản gió phía trước là Đức và Pháp, và có xe hậu cần tiếp tế phía sau là Ngân hàng Trung ương châu Âu.

Tây Ban Nha - Quốc gia phát triển muộn nằm ở Tây Âu.

Một chi tiết quan trọng thường bị bỏ qua là Tây Ban Nha không có một lộ trình phát triển êm ả hay thể chế dân chủ lâu đời như Anh hay Pháp. Họ thực chất là một đóa hoa nở muộn của Tây Âu, và dòng thời gian chuyển mình của họ gần như trùng khớp một cách đáng kinh ngạc với Hàn Quốc.

Tây Ban Nha trải qua nền độc tài của Francisco Franco từ 1939 đến 1975, kết thúc cuộc nội chiến tàn khốc. Trong giai đoạn này, Tây Ban Nha bị cô lập hoàn toàn khỏi châu Âu, thậm chí không được tham gia Kế hoạch Marshall của Mỹ sau Thế chiến II. Đến thập niên 1960, Franco thực hiện "Phép màu Tây Ban Nha" bằng cách đưa các nhà kỹ trị lên nắm quyền, mở cửa kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa. Khi Franco mất năm 1975, quá trình chuyển giao dân chủ bắt đầu và hoàn thành bằng hiến pháp năm 1978.

Hàn Quốc đi theo một đường song song. Tướng Park Chung-hee nắm quyền sau đảo chính năm 1961, thiết lập chế độ quân sự sắt đá, dùng bàn tay sắt để ép cả nước làm việc và tạo ra "Phép màu sông Hàn". Hàn Quốc chuyển giao sang dân chủ hoàn toàn vào năm 1987. Như vậy, cuối thập niên 1980, cả hai quốc gia đều bước vào kỷ nguyên dân chủ với nền tảng công nghiệp sơ khai được xây dựng bởi các chính quyền độc tài.

Sự khác biệt xuất hiện ở bước tiếp theo. Năm 1986, Tây Ban Nha gia nhập Liên minh châu Âu. Ngay lập tức, họ nhận được hàng chục tỷ đô-la từ Quỹ gắn kết để xây dựng mạng lưới đường cao tốc, sân bay và hệ thống tàu cao tốc AVE hiện đại bậc nhất châu Âu.

Các tập đoàn ô tô Đức nhảy vào mua lại các hãng xe nội địa và biến Tây Ban Nha thành công xưởng lắp ráp lớn. Tây Ban Nha giàu lên rất nhanh không phải vì tự mò mẫm tạo ra luật chơi, mà vì thể chế của họ hòa nhập ngay vào một hệ thống đã có sẵn tiêu chuẩn cực cao.

Hàn Quốc không có lựa chọn đó. Không có một liên minh khu vực nào ở Đông Á để gia nhập, họ phải tự nâng cấp thể chế quản trị để gia nhập OECD năm 1996. Khi khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 ập đến, Hàn Quốc phải chấp nhận các điều kiện ngặt nghèo của IMF, tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, và ép các tập đoàn Chaebol phải tự bơi ra biển lớn toàn cầu để sống sót.

Điểm cốt lõi là Tây Ban Nha đã đổi mới thể chế chính trị trước để làm tấm vé thông hành vào EU, từ đó tạo nền tảng để "ăn theo" kinh tế một cách hợp pháp và bền vững. Khi Franco mất, giới tinh hoa Tây Ban Nha thực hiện cuộc chuyển giao hòa bình, gọi là La Transición, từ độc tài sang quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện mà không để xảy ra nội chiến hay đảo chính.

Họ đập đi xây lại hệ thống pháp luật, từ luật sở hữu trí tuệ, luật lao động, minh bạch tài chính đến hệ thống tư pháp độc lập, để khớp với bộ tiêu chuẩn khắt khe của châu Âu, gọi là Acquis Communautaire. Bản thân việc đổi mới thể chế đó không đẻ ra tiền ngay, nhưng nó là điều kiện bắt buộc để các đối tác lớn chịu nói chuyện. Nếu thể chế của Tây Ban Nha sau năm 1975 rơi vào bất ổn hoặc tham nhũng, như một số nước Nam Mỹ cũng thoát độc tài cùng thời điểm, thì dù có nằm sát vách nước Đức, họ cũng không bao giờ giàu lên được.

Khi cái vỏ thể chế đã chuẩn Âu, Tây Ban Nha kích hoạt ba dòng "ăn theo" song song. Ngân sách EU rót vào hạ tầng, dòng vốn FDI từ Đức và Pháp đến biến Tây Ban Nha thành công xưởng lắp ráp, và dòng tiền du lịch khổng lồ từ hàng triệu người Anh, Đức, Pháp đổ sang nghỉ dưỡng và mua bất động sản nhờ thị trường chung không biên giới.

Người dân Tây Ban Nha không cần sống chết làm việc như người Hàn. Họ vẫn có thời gian nghỉ trưa, hưởng thụ an sinh xã hội tốt, nhưng kinh tế vẫn lọt top thế giới.

Hàn Quốc đi theo con đường ngược lại, ép người dân làm việc 14 đến 16 tiếng một ngày, tích lũy từng đồng ngoại tệ từ xuất khẩu thô để đổ vào R&D công nghệ lõi. Ngày nay họ có Samsung và Hyundai, nhưng xã hội vắt kiệt sức, tỷ lệ trầm cảm cao và tỷ lệ sinh thấp kỷ lục thế giới.

Các nước lớn đang gánh EU và thu lại gấp bội.

Đức và Pháp đúng là nhà tài trợ ròng lớn nhất của EU. Có những năm Đức đóng góp ròng lên tới 15 đến 20 tỷ Euro, Pháp đứng thứ hai. Nam Âu và Đông Âu luôn là bên nhận nhiều hơn đóng. Nhưng nếu gọi đây là sự hi sinh hay từ thiện thì chưa đủ, vì các nước lớn thu lại từ cơ chế đó những lợi ích vượt xa con số bỏ ra.

Thứ nhất là thị trường chung không biên giới. Khi Tây Ban Nha và Ba Lan giàu lên nhờ tiền trợ cấp EU, việc đầu tiên họ làm là mua ô tô Volkswagen và BMW, mua máy bay Airbus, mua máy móc Siemens. Hàng hóa Đức chảy sang các nước này không tốn một đồng thuế quan nào. Số tiền kinh tế Đức kiếm được nhờ xuất khẩu sang các nước EU lớn gấp hàng chục lần số tiền chính phủ Đức bỏ ra đóng góp ngân sách.

Thứ hai là đồng Euro yếu hơn năng lực thực tế của Đức. Nếu Đức dùng đồng tiền riêng, sức mạnh kinh tế của họ sẽ đẩy đồng tiền tăng giá phi mã, làm hàng hóa Đức quá đắt trên thị trường quốc tế. Bằng cách dùng chung đồng Euro với các nền kinh tế yếu hơn như Tây Ban Nha hay Hy Lạp, giá trị đồng Euro bị kéo ghì xuống, giúp hàng hóa "Made in Germany" cực kỳ cạnh tranh khi bán sang Mỹ, Trung Quốc hay Đông Nam Á.

Cái giá Đức phải trả cho lợi thế này là chính sách tiền tệ chung của Ngân hàng Trung ương châu Âu không phải lúc nào cũng khớp với chu kỳ kinh tế riêng của Đức. Đức phải gánh một phần rủi ro tài chính mỗi khi các nước Nam Âu gặp khủng hoảng nợ, như đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đầu những năm 2010. Nhưng xét tổng thể, phần lợi từ xuất khẩu vẫn lớn hơn phần rủi ro phải gánh.

Thứ ba là quyền tự do dịch chuyển lao động, cho phép Đức và Pháp hút chất xám từ khắp châu Âu mà không tốn chi phí đào tạo. Các kỹ sư, bác sĩ và lao động tay nghề cao từ Tây Ban Nha, Ý, Ba Lan có thể sang làm việc mà không cần visa.

Thứ tư là quyền lực địa chính trị. Đức có GDP khoảng 4.500 tỷ USD, Pháp khoảng 3.000 tỷ USD, và đứng một mình thì họ chỉ là những quốc gia tầm trung trên bàn cờ quốc tế, dễ bị Mỹ hay Trung Quốc dùng chiến thuật bẻ từng chiếc đũa để chèn ép. Với tư cách lãnh đạo khối EU có GDP tổng cộng gần 19.000 tỷ USD, họ có vị thế ngang hàng để đàm phán thương mại và ép các tập đoàn công nghệ Mỹ phải tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu hay dùng chung cổng sạc.

EU vì thế hoạt động giống một hệ thống nhượng quyền thương hiệu khổng lồ. Đức và Pháp là chủ thương hiệu, bỏ tiền xây dựng hệ thống và hỗ trợ vốn ban đầu cho các đại lý để chúng vận hành theo quy chuẩn của mình. Khoản chi này là chi phí bảo trì, không phải từ thiện.

Tại sao người dân Pháp không cảm thấy giàu hơn?

Nếu nước Pháp thu lợi lớn đến vậy từ EU, tại sao người dân Pháp lại không giàu hơn các nước "ăn theo" rõ rệt. GDP đầu người của Pháp chỉ nhỉnh hơn Tây Ban Nha một chút, thậm chí trong một số giai đoạn còn thua Bỉ, Áo hay Hà Lan. Câu trả lời nằm ở chỗ cái giàu của nước Pháp là cái giàu của thể chế và tập đoàn, không phải của người dân đại chúng.

Pháp vận hành theo mô hình phúc lợi xã hội cực đoan nhất trong số các nước lớn, với tỷ lệ thu thuế và đóng góp xã hội chiếm khoảng 45 đến 47% GDP, thuộc top đầu OECD. Khi một người Pháp kiếm tiền, một phần lớn đã bị nhà nước cắt ngọn trước khi kịp vào túi họ. Số tiền đó được chuyển hóa thành hệ thống y tế gần như miễn phí, giáo dục đại học miễn phí, trợ cấp thất nghiệp cao và hệ thống hưu trí an toàn. Thu nhập khả dụng thực tế của người dân Pháp vì thế trông không cao, dù nền kinh tế tổng thể rất mạnh.

Đồng thời, vì Pháp là đầu tàu kinh tế, dòng tiền tập trung rất mạnh vào các trung tâm như Paris, đẩy chi phí sinh hoạt lên mức rất cao so với Tây Ban Nha hay các nước Đông Âu. Một người làm văn phòng ở Paris có thể kiếm lương cao gấp đôi người ở Madrid, nhưng sau khi trừ tiền thuê nhà và sinh hoạt phí, số tiền tích lũy được có khi bằng nhau.

Quan trọng hơn, lợi ích từ EU và toàn cầu hóa không chia đều cho mọi người dân Pháp. Nó chảy chủ yếu vào các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ như LVMH, TotalEnergies, Airbus, L'Oréal, và vào giới tinh hoa tài chính ở các thành phố lớn.

Tầng lớp lao động phổ thông ở các vùng công nghiệp cũ trực tiếp chịu áp lực cạnh tranh khi các nhà máy dịch chuyển sang Ba Lan hay Séc nơi nhân công rẻ hơn. Đây chính là lý do Pháp thường xuyên nổ ra các cuộc biểu tình bạo động, điển hình là phong trào Áo Vàng, vì người lao động bình thường cảm thấy mình đang bị nghèo đi trong khi nước nhà được mô tả là đang gánh châu Âu.

Nếu bớt gánh EU, các nước lớn mất nhiều hơn được.

Câu hỏi đặt ra là nếu Đức hay Pháp bớt đóng góp cho EU, họ được hay mất. Cái được ngắn hạn khá rõ ràng về mặt chính trị nội địa. Chính phủ Đức giữ lại 15 đến 20 tỷ Euro mỗi năm để sửa đường xá trong nước hay giảm thuế cho dân, và các đảng phái không còn bị chỉ trích là mang tiền nhà đi nuôi hàng xóm.

Nhưng cái mất dài hạn là thảm họa kinh tế. Nếu thị trường chung sụp đổ, một chiếc ô tô Đức bán sang Tây Ban Nha hay Ba Lan sẽ bị đánh thuế 10% và mất nhiều tuần để thông quan. Các tập đoàn Đức sẽ mất lợi thế độc quyền tại thị trường 450 triệu dân vào tay đối thủ Mỹ hay Trung Quốc.

Không còn gánh các nền kinh tế yếu để kéo ghì đồng Euro, đồng tiền Đức sẽ tăng giá phi mã, làm hàng hóa "Made in Germany" quá đắt đỏ trên toàn cầu và bóp chết ngành sản xuất, xương sống của nền kinh tế Đức.

Bài học cụ thể nhất là Brexit của Anh. Năm 2016, người dân Anh bị thuyết phục bởi lập luận rằng mỗi tuần nước này phải nộp 350 triệu bảng cho EU và nên giữ số tiền đó cho hệ thống y tế quốc gia. Phe ủng hộ rời EU còn lập luận thêm về việc giành lại chủ quyền lập pháp và quyền tự do đàm phán thương mại với các nước ngoài EU, những mục tiêu chính trị có giá trị riêng của chúng, độc lập với phép tính lợi hại kinh tế.

Nhưng về mặt kinh tế, hệ quả sau vài năm cho thấy số tiền tiết kiệm được hoàn toàn bị lu mờ bởi chi phí phát sinh từ thủ tục hành chính và kiểm soát biên giới mới. Kinh tế Anh bị thu hẹp đáng kể, lạm phát cao hơn, và tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng xảy ra vì không còn dòng lao động từ Đông Âu. Vị thế trung tâm tài chính của London bị suy yếu nghiêm trọng, và Anh rơi vào giai đoạn trì trệ kinh tế kéo dài.

EU là ý tưởng có chủ đích hay vô tình phát triển?

Ý tưởng về một châu Âu thống nhất không phải là điều vô tình. Năm 1795, triết gia Immanuel Kant viết bài luận "Hòa bình vĩnh cửu", trong đó ông khẳng định châu Âu chỉ có thể hòa bình nếu các nước tự nguyện từ bỏ một phần chủ quyền để lập ra một liên bang của các quốc gia tự do.

Năm 1849, Victor Hugo, tác giả "Những người khốn khổ", có một bài phát biểu chấn động về tương lai châu Âu. Ông nói:

"Sẽ đến ngày mà các bạn, Pháp, Đức, Ý, Nga, tất cả các quốc gia trên đại lục, không cần mất đi những phẩm chất đặc sắc của mình, nhưng sẽ hòa hợp chặt chẽ trong một thực thể cấp cao hơn... Sẽ đến ngày chúng ta thấy hai vương quốc khổng lồ: Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Hợp chúng quốc Châu Âu đối diện nhau qua đại dương."

Tuy nhiên, suốt nhiều thế kỷ, ý tưởng này chỉ nằm trên giấy vì chủ nghĩa dân tộc và lòng tham quyền lực quá lớn. Thế chiến II là cú sốc đủ mạnh để ý tưởng đó thành hiện thực. Sau năm 1945, châu Âu tan hoang, kiệt quệ và nhận ra rằng nếu còn đánh nhau một lần nữa, cả đại lục sẽ xóa sổ khỏi bản đồ văn minh.

Những người lập quốc như Jean Monnet và Robert Schuman của Pháp không ảo tưởng về việc gộp các quốc gia thành một siêu nhà nước ngay lập tức. Họ chọn một nước đi thực dụng là trói buộc nhau về kinh tế để không thể đánh nhau về quân sự.

Năm 1951, họ thành lập Cộng đồng Than và Thép Châu Âu gồm sáu nước: Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg. Logic đơn giản là muốn sản xuất vũ khí thì phải có than và thép, và nếu Pháp và Đức cùng gộp quyền kiểm soát ngành than thép vào một tổ chức duy nhất, thì nếu Đức âm thầm tái vũ trang, Pháp sẽ biết ngay. Chiến tranh trở thành điều bất khả thi về mặt vật lý.

Từ đó, mọi thứ phát triển theo hiệu ứng vết dầu loang. Đã chung than thép thì tại sao không chung toàn bộ thị trường, dẫn đến Thị trường chung năm 1957. Đã cho hàng hóa chạy tự do thì thủ tục hải quan trở nên vướng víu, dẫn đến Hiệp ước Schengen năm 1985 xóa bỏ kiểm soát biên giới.

Đã buôn bán tự do mà mỗi nước dùng tiền riêng thì tốn chi phí đổi tiền, dẫn đến đồng Euro năm 1999. Đã dùng chung tiền thì phải có luật chung và ngân hàng chung, dẫn đến Tòa án Châu Âu và Ngân hàng Trung ương Châu Âu.

Hình thái EU ngày nay là một tổ chức có quyền lực sâu rộng từ kinh tế, tiền tệ đến luật pháp, trong đó luật EU có hiệu lực tối cao so với luật quốc gia trong các lĩnh vực đã được chuyển giao thẩm quyền như thương mại, cạnh tranh, và tiền tệ với các nước dùng Euro. Điều này vượt xa hình dung của những người đặt nền móng ban đầu, dù các quốc gia thành viên vẫn giữ chủ quyền trong những lĩnh vực như quốc phòng, ngoại giao hay phần lớn chính sách thuế trực tiếp.

Nếu Kant hay Victor Hugo sống dậy, họ chắc chắn sẽ kinh ngạc khi thấy người Đức và người Pháp dùng chung một đồng tiền, và người Tây Ban Nha tự do sang làm việc tại Berlin mà không cần hộ chiếu.

Tại sao châu Âu không thể không có EU

Châu Âu cần EU vì một lý do cơ bản: mảnh đất này quá nhỏ nhưng lại có quá nhiều quốc gia riêng biệt. Toàn bộ châu Âu chỉ lớn hơn nước Úc một chút, nhưng bị chia cắt thành gần 50 quốc gia với đủ loại ngôn ngữ, sắc tộc và lịch sử thù hận.

Nếu không có EU, hàng rào thuế quan sẽ bủa vây mọi giao dịch thương mại xuyên biên giới. Một chiếc máy bay Airbus sẽ không bao giờ được chế tạo, vì cánh làm ở Anh, đuôi làm ở Tây Ban Nha, thân làm ở Đức và lắp ráp tại Pháp, và chi phí thủ tục qua lại giữa các nước sẽ bóp chết dự án từ trong trứng nước.

Người dân các nước nhỏ sẽ bị bó buộc trong biên giới quốc gia, phải dùng những sản phẩm và dịch vụ nội địa đắt đỏ vì thị trường nước họ quá bé để nuôi lớn các tập đoàn tầm cỡ. Các nước Nam Âu và Đông Âu có lẽ vẫn đang loay hoay với hạ tầng lạc hậu của thập niên 1980, vì không có hàng trăm tỷ Euro viện trợ không hoàn lại từ ngân sách EU đổ về xây đường cao tốc và sân bay.

Trên bàn cờ địa chính trị, nếu không có EU phát ngôn bằng một giọng đại diện cho 450 triệu dân, Mỹ hay Trung Quốc có thể dùng chiến thuật bẻ từng chiếc đũa, ép nước này và dụ dỗ nước kia. Châu Âu sẽ mất hoàn toàn tiếng nói trên bàn cờ thế giới.

EU giải quyết hai bài toán cơ bản mà không quốc gia đơn lẻ nào tự làm được. Bài toán thứ nhất là quy mô kinh tế: EU gộp tất cả các nước nhỏ lại thành một thị trường 18.000 tỷ USD, tạo ra vị thế đàm phán ngang hàng với Mỹ và Trung Quốc, đủ sức ép các tập đoàn công nghệ Mỹ phải tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu hay dùng chung cổng sạc USB-C.

Bài toán thứ hai là bảo hiểm hòa bình. Bằng cách trói chặt dòng tiền, ngân hàng, luật pháp và biên giới vào một bộ khung chung, EU đã biến chiến tranh giữa các nước thành viên từ bất khả thi về mặt vật lý thành bất khả thi về mặt lợi ích kinh tế. Kết quả là hơn 70 năm hòa bình liên tục trên một đại lục mà trong 2.000 năm trước chưa bao giờ yên ổn quá vài thập kỷ.

Ukraine và Tây Balkan; quả tạ hay khoản đầu tư chiến lược?

Các nước cựu Nam Tư, gồm Serbia, Albania, Bắc Macedonia, và Ukraine đang khao khát gia nhập EU không phải chỉ vì giấc mơ làm giàu, mà vì đó là tấm vé sinh tồn. Gia nhập EU đồng nghĩa với việc gắn chặt vận mệnh chính trị với phương Tây, khiến các thế lực bên ngoài phải e dè nếu muốn can thiệp quân sự.

Nó mang lại dòng tiền từ Quỹ gắn kết để tái thiết đất nước, thứ mà không một quốc gia đơn lẻ nào cứu được. Và nó trao cho người dân quyền tự do sang Đức, Pháp, Ý làm việc hợp pháp, giấc mơ đổi đời của hàng triệu giới trẻ.

Với Đức và Pháp, kết nạp Ukraine là quả tạ nặng nhất lịch sử EU. Ukraine là một nước nông nghiệp khổng lồ với diện tích đất canh tác bao la, và nếu vào EU, theo luật hiện hành, phần lớn Quỹ trợ cấp nông nghiệp chung sẽ phải đổ vào đây.

Nông dân ở Pháp, Ba Lan, Tây Ban Nha sẽ bị cắt giảm trợ cấp và phá sản vì không cạnh tranh nổi với nông sản giá rẻ của Ukraine. Chi phí kéo một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh lên chuẩn châu Âu sẽ hút cạn ngân sách các nước đóng góp ròng. Các nước Tây Balkan mang theo tình trạng tham nhũng hệ thống, tội phạm xuyên quốc gia và xung đột sắc tộc ngầm cực kỳ phức tạp.

Tuy nhiên, Đức và Pháp vẫn bỏ phiếu trao tư cách ứng viên vì bài toán địa chính trị không cho phép họ làm khác. Nếu EU bỏ rơi Ukraine và Tây Balkan, vùng đất này sẽ rơi vào tầm ảnh hưởng của Nga hoặc Trung Quốc, và biên giới của các thế lực đối đầu sẽ sát vách nước Đức.

Chi phí để bảo vệ an ninh quốc phòng lúc đó sẽ còn đắt đỏ gấp trăm lần tiền trợ cấp kinh tế. Hơn nữa, Ukraine có tài nguyên khoáng sản dồi dào và một lực lượng lao động IT và kỹ sư tay nghề cao với giá rẻ, và khi chiến tranh qua đi, đây sẽ là thị trường tiêu thụ và công xưởng mới cho các tập đoàn Đức và Pháp khai thác.

Cuộc chơi kết nạp thành viên mới của EU vì thế giống như việc một tập đoàn lớn thâu tóm một doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản. Nó chắc chắn làm sụt giảm lợi nhuận ngắn hạn và buộc các cổ đông lớn phải nhịn ăn nhịn tiêu để bù lỗ.

Nhưng nếu không mua lại, đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm lấy vị trí chiến lược đó và đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của chính họ trong tương lai.

Ảnh: Xưởng lắp ráp Airbus với thân máy bay trắng trung tâm, minh họa chuỗi cung ứng xuyên biên giới (cánh Anh, đuôi Tây Ban Nha, thân Đức, lắp ráp Pháp)

Cre: Xóm Văn Hóa

reddit.com
u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Số phận của phụ nữ trong sự kiện Tĩnh Khang bi thảm đến mức nào?

​

1. Nạn Tĩnh Khang, trước hết là nạn của những người phụ nữ.

Trong chính sử của nhà Tống không ghi rõ chi tiết về số phận đau lòng của những người phụ nữ trong "Nỗi nhục Tĩnh Khang". Chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong các bộ dã sử như “Nam Chinh Lục Hối”, “Khai Phong Phủ Trạng” và “Tĩnh Khang Bách Sử Tiên Chứng”.

Theo "Nam Chinh Lục Hối ", ngày 10 tháng chạp năm Tĩnh Khang thứ nhất, vua Tống sai sứ là Ngô Khai và Mạc Đạo sang báo với quân Kim, đồng ý dâng:

- Vật phẩm gồm mũ miện, xe cộ, bảo vật các loại.

- Người thì gồm: thân vương, quan đại thần, con gái hoàng tộc mỗi loại 2 người; dân nữ và nữ nhạc mỗi loại 500 người.

Đây là đợt phụ nữ đầu tiên bị đưa sang làm lễ vật.

Sau đó, ngày 22 tháng Giêng, năm Tĩnh Khang thứ 2, nhà Tống tiếp tục ký thỏa thuận, dâng thêm: 2 Đế Cơ (công chúa), 4 con gái dòng tông thất và 4 con gái dòng thân tộc xa, 2.500 cung nữ, và 1.500 nữ nhạc.

Thỏa thuận này còn quy định: "Khao quân một triệu thỏi vàng, năm triệu thỏi bạc, phải nộp đủ trong vòng mười ngày.

Nếu không đủ số lượng:

- Mỗi một Đế cơ, Vương phi được tính bằng một ngàn thỏi vàng;

- Mỗi một Tông cơ tính bằng năm trăm thỏi vàng;

- Mỗi một Tộc cơ tính bằng hai trăm thỏi vàng;

- Mỗi một Tông phụ tính bằng năm trăm thỏi bạc;

- Mỗi một Tộc phụ tính bằng hai trăm thỏi bạc;

- Mỗi một nữ tử quý tộc tính bằng một trăm thỏi bạc.

Chú thích:

Đế cơ, Vương phi, Tông cơ, Tộc cơ: công chúa, vợ của vua/ hoàng tử.

Cung nữ, Thái nữ: người hầu, thị nữ thuộc cung đình

Tông phụ, Tộc phụ: Vợ của họ hàng hoàng tộc.

Quý thích: Con gái/quý nữ nhà quan.

Quan dân nữ: Phụ nữ nhà quan nhỏ và dân thường.

2. Từ ngày 28 tháng Giêng, hoàng đế và triều đình nhà Tống bắt đầu thực thi thỏa thuận

Những người phụ nữ đầu tiên bị đưa vào trại quân Kim là gia quyến và ca kỹ của Thái Kinh, Đồng Quán, Vương Phủ, mỗi nhà hai mươi tư người. Trong đó, Phúc Kim Đế cơ cũng nằm trong danh sách bị gửi đi, bị đưa đến trại của quân Kim.

Sử chép, Phúc Kim Đế cơ khi gặp Oát Ly Bất (tức thống soái quân Kim Hoàn Nhan Tông Vọng, con trai thứ hai của Kim Thái Tổ, còn được gọi là Nhị Hoàng tử) đã "run rẩy mặt không còn hạt máu", Oát Ly Bất ra lệnh cho tỳ nữ Lý thị chuốc say Phúc Kim Đế cơ, rồi thừa cơ cưỡng hiếp nàng. Phúc Kim Đế cơ là công chúa đầu tiên của triều Tống bị người Kim chà đạp trong Nạn Tĩnh Khang.

Do không gom đủ số lượng vàng bạc theo yêu cầu của quân Kim trong thời hạn 10 ngày, nên vua tôi nhà Tống đã dựa vào "điều khoản bổ sung" để lấy phụ nữ gán nợ.

Quan viên phủ Khai Phong ngoài áp giải phụ nữ trong cung đình, tông thất đến trại Kim, còn đi lùng bắt dân nữ trong kinh thành để cho đủ số. Những người phụ nữ bị bắt ép này "đều đầu bù tóc rối, không ăn uống, giả dạng ốm yếu với hy vọng được tha", nhưng Khai Phong phủ doãn Từ Bỉnh Triết vì muốn lập công, đã "tự bỏ tiền mua trâm cài áo, trang điểm lộng lẫy" cho năm ngàn phụ nữ từ cung tần đến kỹ nữ rồi đưa ra khỏi kinh thành, giao cho quân Kim.

Quan viên chấp sự trong "Khai Phong Phủ Trạng" đã thống kê một bản danh sách chi tiết, lưu lại cho chúng ta chứng cứ của trang sử nhục nhã này:

- Chọn nạp phi tần 83 người, Vương phi 24 người, Đế cơ 22 người, mỗi người tính 1.000 thỏi vàng, tổng cộng 134.000 thỏi vàng, trong đó 5 người Đế phi được tính gấp đôi.

- Tần ngự 98 người, Vương thiếp 28 người, Tông cơ 52 người, Ngự nữ 78 người, Tông cơ chi gần 195 người, mỗi người tính 500 thỏi vàng, tổng cộng 225.500 thỏi vàng.

- Tộc cơ 1.241 người, mỗi người tính 200 thỏi vàng, tổng cộng 248.200 thỏi vàng.

- Cung nữ 479 người, Thái nữ 604 người, Tông phụ 2.091 người, mỗi người tính 500 thỏi bạc, tổng cộng 1.587.000 thỏi bạc.

- Tộc phụ 2.007 người, ca nữ 1.314 người, mỗi người tính 200 thỏi bạc, tổng cộng 664.200 thỏi bạc.

- Quý thích, quan dân nữ 3.319 người, mỗi người tính 100 thỏi bạc, tổng cộng 331.900 thỏi bạc.

Tổng cộng tính bằng 607.700 thỏi vàng, 2.583.100 thỏi bạc.

Chỉ riêng một lần này, số lượng phụ nữ các loại bị dùng để gán nợ lên tới 11.635 người.

Kể từ khoảnh khắc bị đưa vào trại quân Kim, cơn ác mộng của những người phụ nữ này đã bắt đầu.

Tướng lĩnh quân Kim chia chác những chiến lợi phẩm đặc biệt này như chia gia súc. Trong số những phụ nữ đầu tiên bị áp giải đến trại Kim, Niêm Hãn, Oát Ly Bất tự lấy vài chục người, chư tướng từ chức Mưu Khắc trở lên mỗi người được ban vài người, dưới Mưu Khắc thì ban một hai người, sau đó cùng với dòng người cống nữ ùn ùn kéo tới, phạm vi "ban ơn" dần lan xuống tầng lớp dưới. Họ bị ép thay y phục, múa hát chuốc rượu cho tướng lĩnh quân Kim, phục vụ việc chà đạp và nhục nhã, chỉ cần phản kháng một chút là bị giết chết.

Đêm ngày mồng 5, Niêm Hãn ( Hoàn Nhan Tông Hàn) mở tiệc chiêu đãi tướng lĩnh dưới quyền, ra lệnh cho cung tần thay trang phục hầu rượu. Có ba người là Trịnh thị, Từ thị, Lữ thị kháng mệnh không theo, bị chém chết tại chỗ. Một người khác vì không chịu nổi nhục nhã đã dùng mũi tên đâm cổ họng t.ự v.ẫn. Lại có Trương thị, Cao thị...vì không tuân ý nhị thái tử Hoàn Nhan Tông Vọng ( Oát Ly Bất), đã bị cọc sắt xuyên qua người, treo trước trại, máu chảy ba ngày mới chết.

Ngày mồng 7, Vương phi và Đế cơ nhập trại, Hoàn Nhan Tông Vọng liền chỉ vào những nạn nhân đang muốn chết mà không được ấy để cảnh cáo, khiến họ mặt không còn chút máu, sống không bằng chết.

Để thỏa mãn dục vọng của tướng lĩnh quân Kim, Hoàn Nhan Tông Vọng thậm chí còn hạ lệnh: "Kẻ nào đang mang thai thì nghe y quan cho uống thuốc phá thai". Những phụ nữ đã thuộc về tướng sĩ quân Kim thì phải thay đổi cách trang điểm theo Đại Kim.

Một số phụ nữ không chịu nổi lăng nhục đã lần lượt t.ự v.ẫn, như Tín Vương phi tự vẫn tại trại Thanh Thành, Vận Vương cơ Vương thị tự vẫn tại chùa Lưu Gia. Đến mức "phụ nữ trong các trại chết nối tiếp nhau", trong đó bao gồm cả các công chúa mười sáu tuổi như Nhân Phúc Đế cơ, Hiền Phúc Đế cơ và Bảo Phúc Đế cơ.

Hoàng hậu và phi tần của Tống Huy Tông có năm người, trong đó mẹ của Triệu Cấu là Vi thị bị đưa vào Hoán Y Viện - tức kỹ viện của hoàng tộc nước Kim.

Ba mươi mốt người là phi tần, một trăm lẻ tám người có phong hiệu khác, cùng sáu mươi bảy người có danh hiệu Quốc phu nhân, Quận phu nhân, phu nhân, hai mươi chín cháu gái hoàng đế, tất cả đều bị phân phối như gia súc.

Còn Tống Khâm Tông có một hậu, một phi, Chu hoàng hậu nhảy xuống nước tự vẫn, Chu Thận phi theo đến thành Ngũ Quốc.

Các tỳ thiếp có phong hiệu khác gồm mười người, nô tỳ hai mươi bảy người, vợ các hoàng tử ba mươi tư người, cùng tông thất họ Triệu, hai mươi hai người con gái của anh em Huy Tông, cũng chịu chung số phận.

Vợ con của hai đời hoàng đế đều có kết cục như vậy, có thể tưởng tượng được số phận của những người phụ nữ khác. Hơn mười ngàn phụ nữ này hầu hết đều trở thành quân kỹ của quân Kim, hơn phân nửa đã bị ngược đãi đến chết trên đường bị áp giải về phương Bắc.

Lý do cho việc chính sử không ghi chi tiết những điều này xuất phát từ bản chất của từng loại sử liệu:

- Sử chính thống được triều đình kế tiếp biên soạn. Mục đích là ghi lại công lao và sự nghiệp của triều đại trước. Việc ghi chép một cách chi tiết và trần trụi về cảnh hoàng tộc bị làm nhục bị coi là một điều tối kỵ mà các sử quan thời đó tìm cách lược bỏ hoặc nói giảm nói tránh.

- Các bộ dã sử, ví như "Tĩnh Khang Bách Sử Tiên Chứng” ( do Tần Thừa Dụ thời Nam Tống sưu tầm) tập hợp 7 bộ ký sự của cả người Tống lẫn người Kim. Trong đó “Khai Phong Phủ Trạng” ghi chép vô cùng tỉ mỉ về danh sách và "mức giá" quy đổi phụ nữ hoàng tộc, quan lại ra vàng bạc để trừ nợ bồi thường chiến phí.

- Vì đây là những lời kể, ghi chép "theo ngôi thứ nhất" của những người từng trải qua biến cố, nên chúng phản ánh một cách chân thực, sinh động và đầy đủ hơn về những góc khuất của thảm kịch, đặc biệt là số phận của những người phụ nữ, những đối tượng ít được đề cập trong chính sử.

- Tuy số chi tiết có thể bị phóng đại bởi tư tưởng căm thù dân tộc thời Nam Tống, nhưng bản chất sự thật vẫn rất tàn khốc, việc vương triều nhà Tống dùng phụ nữ hoàng tộc và dân nữ để thế nợ chiến phí là sự thật lịch sử không thể chối cãi.

Cre: Xóm văn hoá

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Nhân phẩm của bên thua cuộc

Hậu của một thời đại

Một gã nông dân cày thuê cuốc mướn ở bán đảo Italy, nhập ngũ, khoác lên người tấm áo xích lưới, vác khiên đi về phía Đông. Và rồi gã đứng ở Athens. Dưới chân gã là thành phố của Socrates, của những triết gia vĩ đại và nền dân chủ từng huy hoàng nhất thế giới cổ đại. Nhưng gã chẳng quan tâm đến triết học hay kịch nghệ. Điều duy nhất gã thấy là ở đây, mọi thứ đều rẻ mạt đến kinh ngạc, từ rượu vang cho đến con người.

Thi hào Horace từng nói "Hy Lạp bị chinh phục đã bắt giữ kẻ chinh phục hoang dã của nó" - một bản hùng ca về sự giao thoa văn hóa. Chuyện đó không sai. Người La Mã đúng là đã phải học rất nhiều về nên văn hoá đồ sộ của Hy Lạp, nhưng thứ họ trả lại là gì? Sự sụp đổ của nền kinh tế.

Vào khoảng thế kỷ thứ 2 và thứ 1 TCN, đặc biệt là sau khi La Mã san phẳng trung tâm thương mại Corinth (146 TCN) và tướng Sulla tàn sát Athens (86 TCN), nền kinh tế của các thành bang Hy Lạp về cơ bản là nát bét. Những cuộc nội chiến liên miên giữa các vương quốc thời kỳ Hellenistic, cộng thêm các khoản bồi thường chiến phí khổng lồ mà La Mã áp đặt, đã rút cạn kiệt lượng bạc trong khu vực. Ngược lại, Cộng hòa La Mã lúc đó đang bơi trong tiền và nô lệ cướp được từ khắp Địa Trung Hải.

Một binh sĩ La Mã ở quê nhà có thể chỉ là tầng lớp bình dân hạ lưu, chật vật sống bằng đồng lương quân đội. Nhưng khi gã bước vào một Athens vừa vỡ nợ, lạm phát và bị tước đoạt mọi tư liệu sản xuất, gã bỗng chốc trở thành một đại gia. Đồng bạc denarius trong túi gã được bảo chứng bởi một thứ quyền lực tuyệt đối: kiếm của các quân đoàn. Ở chiều ngược lại, khi một nền kinh tế sụp đổ, nhân phẩm luôn là thứ bị định giá lại đầu tiên, và thường là giảm giá sâu nhất.

Sự vĩ đại của Athens biến mất, nhường chỗ cho một nền kinh tế dịch vụ phục vụ chính kẻ thù cũ. Thành phố từng đập tan hạm đội Ba Tư và thống trị biển Aegean giờ đây trở thành một "phố đèn đỏ" và khu du lịch giá rẻ cho giới tinh hoa La Mã. Hậu duệ của những chiến binh Sparta và triết gia Athens nếu không bị bán làm nô lệ thì cũng trở thành gia sư, nghệ sĩ mua vui, hoặc cung cấp các dịch vụ thể xác cho những kẻ mang quốc tịch La Mã.

Gã binh sĩ La Mã kia có lẽ chẳng hiểu gì về sự sụp đổ của một nền văn minh vĩ đại. Gã chỉ đơn giản chép miệng nhận ra một chân lý: làm người chiến thắng thực sự rất sướng, nhất là khi bạn cầm ngoại tệ mạnh đi tiêu ở một quốc gia vừa phá sản.

Cre: Sử ta và họ - chuyện xưa kể lại

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Mối quan hệ cộng sinh giữa cảnh sát và tội phạm tại một số nước trên thế giới

Tồn tại một hiện tượng nhạy cảm mà truyền thông chính thống hầu như không bao giờ nhắc tới nhưng đã được ghi nhận lặp đi lặp lại ở nhiều hệ thống cảnh sát trên thế giới trong thực tế quản trị an ninh: cảnh sát và tội phạm sống cộng sinh với nhau, cùng hưởng lợi và cùng vận hành theo một ranh giới ngoài luật pháp, bất thành văn nhưng ngầm hiểu.

Cảnh sát nắm rất rõ các tổ chức tội phạm và hoạt động phạm pháp trên địa bàn, ngày thường thu tiền bảo kê, khi cần thì quay ra bắt giữ rất nhanh, khiến người dân tưởng rằng đó là biểu hiện của năng lực nghiệp vụ xuất sắc trong khi thực chất chỉ là hệ quả của việc đã nắm thông tin từ lâu nhờ mối quan hệ cộng sinh này.

Trong khoa học xã hội, hiện tượng này không bị coi là thuyết âm mưu mà được định danh bằng các thuật ngữ chuyên môn rõ ràng như Mặt tối của Trật tự Xã hội, Mối quan hệ Cộng sinh, Trật tự Bất hợp pháp, hay Sự bảo kê do Nhà nước tài trợ.

Cơ chế cộng sinh này vận hành theo ba quy luật chính.

- Thứ nhất là ranh giới bất thành văn, khi cảnh sát ngầm ra điều kiện cho tội phạm: "Các anh được làm ăn (cờ bạc, mại dâm, bảo kê, ma túy nhỏ lẻ...), nhưng không được gây ra án mạng, không xả súng, không cướp giật trên đường phố làm ảnh hưởng đến chỉ số an ninh công cộng."

- Thứ hai là cơ chế mà có thể gọi là "tài khoản tiết kiệm" phá án: cảnh sát nắm rõ từng đầu sỏ, từng ổ nhóm nhưng không bắt ngay mà nuôi dưỡng, đến khi có đợt thi đua hoặc chịu áp lực từ cấp trên và dư luận thì chỉ cần yêu cầu trùm tội phạm giao nộp vài đàn em thế thân để lấy thành tích phá án nhanh.

- Thứ ba là cơ chế đổi nguồn lực lấy thông tin: tội phạm đóng vai trò tai mắt giúp cảnh sát nắm tình hình địa bàn hoặc triệt hạ các băng nhóm đối thủ vượt ranh giới, trong khi nguồn tiền bảo kê chảy ngược lại để củng cố bộ máy hoặc túi tham cá nhân.

Báo chí chính thống ít khi đề cập đến hiện tượng này vì hai lý do:

- Một là tính chất nhạy cảm chính trị: thừa nhận sự tồn tại của cơ chế cộng sinh đồng nghĩa với thừa nhận bộ máy kiểm soát xã hội của nhà nước đã tha hóa hoặc phải chia sẻ quyền lực với tội phạm.

- Hai là khó khăn về bằng chứng pháp lý: các thỏa thuận ngầm này không có văn bản, thanh toán bằng tiền mặt hoặc tài sản ẩn danh, nên rất khó để báo chí điều tra và quy kết trách nhiệm, trừ khi có đại án tham nhũng bị phanh phui.

  1. Những nghiên cứu học thuật về hiện tượng cộng sinh

Nhà xã hội học Nga Vadim Volkov, trong công trình "Violent Entrepreneurs: The Use of Force in the Making of Russian Capitalism", đã nghiên cứu nước Nga và Đông Âu những năm 1990, chỉ ra ranh giới giữa cảnh sát, cơ quan an ninh và các thế lực xã hội đen bị xóa mờ khi nhiều nhóm cùng cạnh tranh và hợp tác để bán dịch vụ bảo kê cho doanh nghiệp trong bối cảnh cải cách thị trường tự do đầu thập niên 1990.

Nhà khoa học chính trị Richard Snyder, giáo sư tại Đại học Brown, cùng Angelica Duran-Martinez, khi đó đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Brown và nay là phó giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Massachusetts Lowell, đã nghiên cứu sâu về tội phạm ma túy tại Mexico và Colombia và phát triển lý thuyết về "sự bảo kê do nhà nước tài trợ" (state-sponsored protection rackets).

Nghiên cứu của hai tác giả cho thấy khi cảnh sát hoặc chính quyền và các băng đảng ma túy đạt được thỏa thuận ngầm ổn định, bạo lực đường phố lại giảm xuống, trong khi các chiến dịch quét sạch tội phạm làm vỡ thỏa thuận ngầm này thường khiến các băng đảng chém giết lẫn nhau để tranh giành lãnh địa, khiến xã hội bất ổn hơn.

Nghiên cứu sau đó của Guillermo Trejo và Sandra Ley, công bố năm 2018, đã kiểm chứng trực tiếp cơ chế này tại Mexico: khi các đảng đối lập giành ghế thống đốc bang và thay thế các quan chức của viện công tố cùng cảnh sát tư pháp, tức chính những cơ quan đã dựng nên mạng lưới bảo kê ngầm cho tội phạm dưới thời đảng cầm quyền cũ, các băng đảng mất chỗ dựa liền tự lập dân quân riêng để tự vệ rồi dùng chính lực lượng đó thôn tính lãnh địa đối thủ, kéo theo làn sóng giết chóc giữa các băng đảng từ giữa những năm 1990 đến năm 2006.

Lịch sử nước Mỹ cũng có một trường hợp kinh điển của tội phạm học nằm ngoài phạm vi Nga và Mexico: thời kỳ Cấm rượu ở Chicago dưới trùm tội phạm Al Capone.

Capone chi hối lộ đều đặn cho cảnh sát và quan chức thành phố, với quy mô được nhiều sử liệu phổ biến mô tả là lan rộng trong bộ máy cảnh sát Chicago dù không có con số tỷ lệ chính xác được xác nhận rộng rãi, đổi lại cảnh sát làm ngơ trước các quán rượu lậu, báo trước các cuộc bố ráp và để tang vật biến mất.

Đội đặc vụ liên bang do Eliot Ness đứng đầu, thuộc Cục Cấm rượu (Bureau of Prohibition), khó bị mua chuộc hơn cảnh sát địa phương, nhưng cuối cùng Capone bị hạ gục không phải vì tội buôn lậu rượu hay bảo kê mà vì tội trốn thuế, chủ yếu nhờ điều tra của Cục Thuế vụ liên bang.

Mô hình Yakuza tại Nhật Bản là một trong những ví dụ được nhắc đến nhiều nhất về sự cộng sinh công khai giữa cảnh sát và tội phạm có tổ chức.

Trong nhiều thập kỷ, nhất là trước những năm 1990, Yakuza được một bộ phận xã hội và cả một số cơ quan công quyền Nhật Bản xem như một "tai họa tất yếu", vì các băng nhóm này hoạt động có tổ chức, ít gây bạo lực bột phát và được cho là giúp kìm hãm tội phạm đường phố tự phát.

Yakuza không phải tổ chức bất hợp pháp theo luật Nhật Bản, trụ sở các băng nhóm thường đặt công khai và cảnh sát biết rõ vị trí của chúng mà ít khi hành động. Việc trùm băng nhóm chủ động giao nộp thành viên gây án cho cảnh sát để giữ hòa khí từng được nhắc tới trong một số vụ việc cụ thể, nhưng đây không phải một quy trình chính thức hay phổ quát của mọi băng nhóm Yakuza.

  1. Trinh thám trên phim ảnh và điều tra ngoài thực địa

Người dân thường tin rằng cảnh sát phá án theo mô hình trinh thám kiểu Sherlock Holmes hay Conan: có vụ án, thu thập dấu vết tại hiện trường, phân tích suy luận, rồi mới tìm ra thủ phạm.

Nhưng trong tội phạm học thực nghiệm, quy trình điều tra thực tế ở đa số các quốc gia lại đi theo chiều ngược lại: khoanh vùng đối tượng từ kho thông tin ngầm, bắt giữ hoặc mời làm việc, khai thác khẩu cung để củng cố cách thức gây án, rồi mới quy ngược chứng cứ hiện trường.

Với các loại tội phạm có tổ chức, ma túy, băng nhóm hay những vụ việc xảy ra trong cộng đồng khép kín, nhiều nghiên cứu về phương pháp điều tra cảnh sát cho thấy vai trò của tình báo đường phố, tức mạng lưới tin báo và cơ sở ngầm, thường quan trọng không kém, thậm chí hơn cả kính lúp hay xét nghiệm DNA.

Khi một vụ trộm hay đâm chém xảy ra, một trong những việc đầu tiên cảnh sát địa phương làm là kích hoạt mạng lưới tai mắt sẵn có, hỏi thẳng các đầu sỏ và cơ sở ngầm:

- "Gần đây đứa nào đang nợ nần?",

- "Đứa nào vừa đổi đời, xài tiền lạ?",

- "Băng nhóm nào mới mò sang địa bàn này?"

Trong nghiệp vụ cảnh sát ở một số nơi, cách làm này được gọi nôm na là "dựng đối tượng" qua mạng lưới cơ sở, dù đây không phải một thuật ngữ tội phạm học chuẩn hóa quốc tế mà giới nghiên cứu thường gọi bằng các khái niệm như mạng lưới tin báo hay điều tra dựa trên nguồn tin tình báo.

Với những loại án này, cảnh sát nhiều khi đã khoanh vùng được khả năng ai là kẻ thủ ác thông qua các kênh rà soát ngầm trước khi tiến hành bắt giữ, dù không phải mọi loại án hình sự đều đi theo đúng quy trình đó.

Sau khi đã bắt hoặc triệu tập được nghi phạm nhờ thông tin ngầm, bước tiếp theo không phải là chứng minh bằng suy luận như trên phim mà là kỹ năng hỏi cung.

- Trên phim ảnh, cảnh sát tìm ra dấu vết vật lý để suy luận ngược lại hành vi và động cơ của thủ phạm.

- Trong thực tế điều tra ở nhiều vụ án loại này, cảnh sát đã biết thủ phạm từng ở đâu qua tin báo hoặc camera an ninh, rồi dùng kỹ thuật nghiệp vụ để ép đối tượng tự nhận và tự vẽ lại cách thức gây án.

Lời khai có vai trò quan trọng trên thực địa, nhưng giá trị pháp lý của nó phụ thuộc vào hệ thống tố tụng, cách thu thập, sự có mặt của luật sư và các chứng cứ độc lập kiểm chứng, chứ không có quy tắc phổ quát rằng loại chứng cứ nào luôn cao hơn loại nào. Khi đã bắt đúng người, cảnh sát chỉ cần dùng những thông tin đã biết từ trước để đánh gục tâm lý nghi phạm, khiến đối tượng tin rằng cảnh sát đã biết hết nên có giấu giếm cũng vô ích.

Nhận thức phổ biến của công chúng về năng lực suy luận thần thánh của cảnh sát bắt nguồn từ hai nguyên nhân;

- Một là chiến lược truyền thông và tâm lý chiến của chính quyền: bộ máy an ninh cần xây dựng hình ảnh lực lượng tinh nhuệ và công minh để răn đe tội phạm tiềm năng và tạo cảm giác an tâm cho người dân, trong khi việc thừa nhận phá án nhờ tai mắt ngầm hay tra hỏi dựa trên tin báo sẽ làm giảm tính chính danh của pháp luật.

- Hai là thiên kiến xác nhận từ truyền thông: các báo cáo báo chí thường viết theo mô-típ ca ngợi biện pháp nghiệp vụ sắc bén và tinh thần đấu tranh không mệt mỏi, trong khi cụm từ "biện pháp nghiệp vụ" chính là chiếc ô từ vựng rất rộng bao hàm cả mạng lưới cơ sở ngầm lẫn các thỏa thuận tin tức.

Nói ngắn gọn, người dân tin cảnh sát phá án như một nhà toán học giải phương trình từ các dữ kiện, trong khi thực tế cảnh sát phá án giống một người quản lý địa bàn tìm đồ bị mất bằng cách hỏi thẳng nhóm người đang nắm giữ nó.

  1. Kỹ thuật hỏi cung Reid

Kỹ thuật Reid được John E. Reid, một cựu cảnh sát Chicago và chuyên gia phân tích máy phát hiện nói dối, phát triển trong những năm 1940-1950 cùng với luật sư Fred Inbau, và được hệ thống hóa trong cuốn sách "Criminal Interrogation and Confessions" xuất bản năm 1962.

Đây được xem là bộ quy chuẩn kinh điển nhất về kỹ thuật hỏi cung của cảnh sát Mỹ và nhiều quốc gia khác trong suốt nhiều thập kỷ, được phía ủng hộ mô tả như công cụ giúp tạo điều kiện để nghi phạm nói ra sự thật. Nhưng bản chất của kỹ thuật này không phải là tra tấn thể xác mà là chiến tranh tâm lý, với mục tiêu đưa nghi phạm vào trạng thái khủng hoảng tâm lý để việc thừa nhận tội lỗi trở thành lựa chọn duy nhất và dễ chịu nhất tại thời điểm đó.

Quy trình gồm chín bước, được thực hiện sau khi cảnh sát đã phỏng vấn sơ bộ và khẳng định trong đầu rằng nghi phạm chính là thủ phạm.

- Bước một là buộc tội trực diện, khi cảnh sát tuyên bố chắc nịch rằng đã có đầy đủ bằng chứng, nhằm đánh gục tư tưởng phòng thủ ban đầu.

- Bước hai là định hướng lý do, khi cảnh sát tỏ ra cảm thông và đưa ra các lý do bào chữa cho hành vi như hoàn cảnh bế tắc hay bị xúi giục, nhằm giảm cảm giác rủi ro và mức độ nghiêm trọng trong nhận thức của nghi phạm.

- Bước ba là dập tắt sự phủ nhận, khi điều tra viên ngắt lời ngay mỗi khi nghi phạm nói không làm, vì càng lặp lại lời phủ nhận thì ý chí chống cự càng trở nên kiên định, còn việc liên tục bị chặn đứng sẽ làm suy yếu ý chí đó.

- Bước bốn là bác bỏ các lý do bào chữa mà nghi phạm đưa ra, bằng cách dùng chính lý do đó để tiếp tục phát triển chủ đề cảm thông ở bước hai.

- Bước năm là giữ vững sự chú ý, khi nghi phạm bắt đầu im lặng và có dấu hiệu buông xuôi, điều tra viên tiến lại gần hơn, nhìn thẳng vào mắt hoặc chạm nhẹ vào vai để duy trì sự tập trung tối đa.

- Bước sáu là xoa dịu và hướng tới sự hối lỗi, nhấn mạnh vào khía cạnh đạo đức và sự giải thoát tâm lý khi nói ra sự thật.

- Bước bảy, được xem là bước ngoặt quan trọng nhất, là đưa ra câu hỏi lựa chọn với hai phương án nhưng cả hai đều đã ngầm thừa nhận hành vi phạm tội, chẳng hạn:

"Anh lên kế hoạch giết cô ấy để lấy tiền, hay đó chỉ là bộc phát do vô tình cãi nhau?"

hoặc

"Anh ăn trộm tiền để ăn chơi, hay vì gia đình anh đang túng thiếu?"

Phương án thứ hai trong mỗi cặp câu hỏi luôn nghe có vẻ nhẹ nhàng và nhân văn hơn khiến nghi phạm dễ sập bẫy để tự bảo vệ lòng tự trọng, nhưng ngay khi chọn, họ đã chính thức thừa nhận phạm tội.

- Bước tám là để nghi phạm tự tường thuật lại toàn bộ diễn biến vụ án để khớp với chứng cứ thực tế

- Bước chín là chuyển toàn bộ lời thừa nhận thành văn bản, video hoặc băng ghi âm có chữ ký để sử dụng trước tòa.

Theo giới nghiên cứu tâm lý học pháp lý, hiệu quả của kỹ thuật Reid gắn với ba cơ chế có thể làm tăng nguy cơ nghi phạm nhận tội, kể cả khi vô tội:

- Một là gia tăng áp lực tâm lý, khi điều tra viên thổi phồng mức độ nghiêm trọng của bằng chứng, đôi khi nói dối rằng đã thu được DNA hay dấu vân tay dù thực tế chưa có, khiến nghi phạm thấy tình thế đã hoàn toàn bế tắc.

- Hai là giảm thiểu cảm giác hậu quả, khi điều tra viên bình thường hóa tội lỗi để nghi phạm hạ thấp hàng rào phòng thủ.

- Ba là việc cô lập, kéo dài thẩm vấn và liên tục bác bỏ lời phủ nhận có thể gây kiệt quệ tâm lý, khiến việc nhận tội cho xong trở nên hấp dẫn hơn việc tiếp tục đấu trí, đặc biệt ở người chưa thành niên hoặc người dễ bị tổn thương tâm lý.

Dù từng rất phổ biến, kỹ thuật Reid ngày càng bị chỉ trích và hạn chế vì nguy cơ tự nhận tội giả. Nhiều người vô tội do tâm lý yếu, bị giam giữ quá lâu và bị thao túng tâm lý đã tin rằng mình không còn đường lui, hoặc bị ám thị rằng chính mình đã gây ra tội lỗi trong lúc không nhớ.

Ở Anh, mô hình phỏng vấn điều tra PEACE, tập trung vào thu thập thông tin khách quan thay vì cố ép nghi phạm nhận tội bằng được, đã trở thành khung chuẩn được cảnh sát nước này áp dụng chính thức và được nhiều nơi khác, trong đó có Na Uy, Úc và một số bang ở Mỹ, tham khảo hoặc điều chỉnh áp dụng theo mức độ khác nhau tùy vào quy định pháp luật của từng nơi.

  1. Quy mô lực lượng an ninh của Đông Đức so với một số nước khác trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh

Việc lực lượng an ninh có quy mô rất lớn so với tỷ lệ dân số tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, là một thực tế lịch sử đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, bắt nguồn từ đặc thù về mô hình thể chế, học thuyết quản trị và bối cảnh lịch sử chứ không chỉ để duy trì trật tự đường phố đơn thuần.

Nguyên nhân đầu tiên là triết lý an ninh toàn diện: nhiệm vụ của lực lượng an ninh trong mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống không chỉ là bắt tội phạm hình sự mà là bảo vệ thể chế và sự ổn định xã hội trên mọi mặt kinh tế, tư tưởng, văn hóa, báo chí và đời sống dân sự.

Khi lực lượng an ninh đảm nhiệm thêm nhiệm vụ kiểm duyệt, chống tình báo, quản lý nhân khẩu chặt chẽ và giám sát các tổ chức xã hội, số lượng nhân sự bắt buộc phải tăng lên gấp nhiều lần so với mô hình cảnh sát chỉ tập trung vào tội phạm hình sự.

Nguyên nhân thứ hai là tâm lý bị đe dọa từ bên ngoài trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, khi các quốc gia xã hội chủ nghĩa luôn phải đối phó với nguy cơ gián điệp và sự can thiệp từ khối tư bản đối lập, khiến lực lượng an ninh đông đảo đóng vai trò lá chắn ngăn chặn hoạt động phản động hoặc tình báo nước ngoài cài cắm.

Nguyên nhân thứ ba là mạng lưới cơ sở quần chúng khổng lồ: bên cạnh lực lượng chính quy, việc quản lý và phân tích thông tin đổ về từ hàng triệu tai mắt trong dân chúng đòi hỏi một bộ máy sĩ quan điều phối cực kỳ lớn.

Nguyên nhân thứ tư là quản lý kinh tế tập trung: trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên cảnh sát và an ninh phải đảm nhận thêm việc chống đầu cơ, tích trữ, buôn lậu và tuồn hàng hóa ra thị trường đen, khiến quy mô lực lượng càng phình to.

Bộ An ninh Quốc gia Đông Đức, thường gọi là Stasi, được các nhà sử học đánh giá là bộ máy giám sát an ninh dày đặc và toàn diện bậc nhất trong lịch sử nhân loại, dù quy mô và mức độ giám sát ở các nước xã hội chủ nghĩa khác như Liên Xô, Trung Quốc hay Cuba không hoàn toàn đồng nhất với mô hình Đông Đức.

Đến năm 1989, khi Đông Đức có khoảng 16 triệu dân, Stasi có khoảng 91.000 sĩ quan chính quy và một mạng lưới cộng tác viên ngầm được ước tính trong khoảng 170.000 đến 190.000 người tùy nguồn thống kê.

Nếu chỉ tính sĩ quan chính quy, tỷ lệ vào khoảng một sĩ quan Stasi trên mỗi 170-180 người dân tùy cách tính. Nếu tính cả mạng lưới cộng tác viên ngầm, tỷ lệ đạt mức khoảng một người làm việc cho Stasi trên mỗi 60-90 người dân tùy nguồn thống kê và cách gộp hai nhóm.

Nhiều nguồn phổ biến đưa ra so sánh rằng tỷ lệ này ở lực lượng mật thám Gestapo thời Đức Quốc xã chỉ khoảng 1 trên 2.000, dù các con số so sánh cụ thể giữa Stasi, Gestapo và KGB dao động khá lớn giữa các nguồn do khác nhau về định nghĩa nhân sự chính thức, cộng tác viên hay toàn bộ mạng lưới, nên hiểu đây là những ước tính minh họa quy mô chứ không phải số liệu thống nhất tuyệt đối.

Mạng lưới cộng tác viên ngầm của Stasi thâm nhập mọi ngóc ngách đời sống, từ đồng nghiệp, hàng xóm, thầy giáo, bác sĩ cho đến vợ chồng hay người thân trong gia đình.

Thay vì bắt bớ công khai gây xáo trộn xã hội, Stasi còn sử dụng một nhóm biện pháp tâm lý và hành chính đa dạng gọi chung là Zersetzung, tức phân rã tâm lý, bao gồm theo dõi, gây khó khăn nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ xã hội, tung tin đồn thất thiệt, và trong một số trường hợp còn bí mật đột nhập nhà làm thay đổi vị trí đồ đạc để phá hủy ý chí chống đối từ bên trong.

Khi người dân nhận ra ai cũng có thể là an ninh, họ có xu hướng tự điều chỉnh hành vi của mình, và cảm giác bị giám sát liên tục này được xem là một trong những yếu tố góp phần vào mức độ tuân thủ pháp luật và an ninh đường phố rất cao ở Đông Đức, dù mức độ đóng góp của riêng nhân tố này so với các yếu tố khác khó tách bạch rạch ròi.

Về mặt tích cực, tỷ lệ tội phạm thông thường như trộm cắp, cướp giật, giết người hay băng nhóm đường phố ở các quốc gia này cực kỳ thấp, và người dân có cảm giác an toàn tuyệt đối khi đi lại trên đường phố vào ban đêm.

Về mặt hạn chế, chi phí vận hành bộ máy khổng lồ này gánh nặng lên ngân sách nhà nước, đồng thời niềm tin xã hội giữa người với người bị tổn thương nặng nề khi sự nghi ngờ hiện diện khắp nơi.

An ninh ở các nước xã hội chủ nghĩa nhìn chung đông đảo vì nhiệm vụ của họ bao hàm cả trật tự xã hội lẫn an ninh thể chế, và trong số các mô hình đó, Stasi ở Đông Đức là trường hợp cực đoan và được tư liệu hóa đầy đủ nhất, nơi trật tự được thiết lập bằng sự phủ sóng tối đa của bộ máy quản lý.

  1. Năng lực cảnh sát giữa các quốc gia hiện nay

Trên thế giới đã và đang có các nghiên cứu và chỉ số đo lường so sánh hiệu quả hoạt động cảnh sát giữa các quốc gia, tuy các nhà nghiên cứu tránh dùng từ "giỏi hơn" vì quá cảm quan mà đánh giá dựa trên các bộ chỉ số tiêu chuẩn như năng lực thực thi, mức độ tin cậy của dân, tỷ lệ phá án và tính minh bạch.

Chỉ số An ninh Nội địa và Cảnh sát Thế giới, viết tắt WISPI, do Hiệp hội Khoa học Cảnh sát Quốc tế phối hợp với Viện Kinh tế và Hòa bình xây dựng, không đo riêng "cảnh sát giỏi hay không" mà đánh giá năng lực của các nhà cung cấp an ninh nội địa nói chung ở hơn 120 quốc gia, dựa trên bốn nhóm tiêu chí gồm nguồn lực, quy trình, tính chính danh và kết quả.

Đây không phải một chỉ số được cập nhật đều đặn hằng năm, ấn bản được biết đến nhiều nhất là năm 2016, nên các nước như Singapore, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, Áo hay Thụy Sĩ chỉ có thể nói là từng nằm trong nhóm dẫn đầu ở những ấn bản đã công bố, chứ chưa đủ dữ liệu nhiều năm để khẳng định là "thường xuyên" dẫn đầu.

Chỉ số Trật tự và Pháp luật của Gallup lại đo một điều khác: cảm nhận của người dân về mức độ an toàn và niềm tin vào cảnh sát địa phương, dựa trên khảo sát định kỳ hằng năm. Báo cáo năm 2023 của Gallup, dựa trên hơn 146.000 cuộc phỏng vấn ở hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy Phần Lan, Na Uy, Iceland và Kuwait nằm trong nhóm điểm số Trật tự và Pháp luật cao nhất, trong khi Singapore nổi bật hơn ở chỉ báo riêng về cảm giác an toàn khi đi bộ một mình vào ban đêm, với khoảng 95% người được hỏi trả lời có.

Hai loại chỉ số này đo những khía cạnh khác nhau và không nên gộp chung thành một bảng xếp hạng duy nhất.

Một báo cáo năm 2023 của tổ chức nghiên cứu RAND Corporation, khảo sát cách đo lường hiệu quả cảnh sát ở 10 quốc gia, cũng kết luận rằng việc đo lường hiệu quả cảnh sát là một hoạt động phức tạp, phụ thuộc chặt vào bối cảnh xã hội, pháp lý, thể chế và chính trị riêng của từng nước, nên các định nghĩa và phương pháp đo lường cần liên tục được cập nhật cho phù hợp thay vì áp một khung chung cho mọi quốc gia.

Việc so sánh trực tiếp "cảnh sát nước nào giỏi hơn" rất khó vì ba lý do;

- Một là các mô hình hoạt động khác nhau: cảnh sát Mỹ thiên về trấn áp mạnh tay và giải quyết tội phạm bạo lực, cảnh sát Nhật Bản theo mô hình Koban thiên về cắm chốt địa phương và phòng ngừa hơn là chữa cháy, còn cảnh sát Anh theo truyền thống không mang súng khi tuần tra thông thường.

- Hai là khác biệt về luật pháp và xã hội: một nước sở hữu súng đạn tự do như Mỹ tạo ra môi trường nguy hiểm hơn nhiều cho cảnh sát so với các nước kiểm soát súng đạn rất nghiêm ngặt như Nhật Bản, Singapore hay Việt Nam.

- Ba là tiêu chuẩn đo tỷ lệ phá án không thống nhất: một số quốc gia tính dựa trên số vụ bắt giữ, trong khi nước khác lại tính dựa trên số vụ tuyên án thành công tại tòa.

Singapore thường được đánh giá cao trên các chỉ số cảm nhận an toàn nhờ ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu và camera giám sát ở nhiều khu vực công cộng cùng luật pháp nghiêm minh, đi kèm tỷ lệ tội phạm thuộc nhóm thấp nhất thế giới.

Phần Lan và các nước Bắc Âu đòi hỏi cảnh sát tuần tra trải qua quá trình đào tạo khắt khe, ở Phần Lan kéo dài khoảng 3 năm ở bậc đại học, với tỷ lệ lạm dụng quyền lực được ghi nhận ở mức rất thấp so với mặt bằng chung và niềm tin của người dân luôn ở mức cao.

Nhật Bản nổi tiếng với mô hình đồn cảnh sát góc phố Koban, tập trung vào sự gắn kết cộng đồng và phòng chống tội phạm từ sớm thay vì chỉ phản ứng sau khi vụ việc xảy ra, đi kèm với việc kiểm soát súng đạn trong dân cư ở mức rất nghiêm ngặt.

Riêng sự tồn tại của mô hình Koban không tự nó chứng minh cảnh sát Nhật Bản vượt trội hơn mọi hệ thống khác, mà chỉ là một trong nhiều cách tiếp cận được đánh giá cao trong bối cảnh xã hội và pháp lý riêng của nước này.

Cre: Xóm Văn Hóa

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Một nghiên cứu mới cho rằng nền văn minh Indus có thể là xã hội bình đẳng nhất trong thế giới cổ đại - nhưng các học giả vẫn còn tranh cãi.

Mohenjo Daro, một trong những trung tâm chính của nền văn minh thung lũng Indus—hay Harappan—được quy hoạch tỉ mỉ, với hệ thống thoát nước, đường phố được tổ chức bài bản và các công trình xây dựng bằng gạch tiêu chuẩn. Những ngôi nhà có kích thước tương đương nhau thậm chí còn có hệ thống cấp nước trong nhà từ thời kỳ đầu.

Nhưng bất chấp sự tổ chức tỉ mỉ của nó, nhiều điều về đô thị cổ đại này—bao gồm cả hệ thống chữ viết và tổ chức xã hội—vẫn còn là bí ẩn. Các cuộc khai quật gần đây đã được tiến hành tại thành phố cổ sau nhiều thập kỷ gián đoạn—như đã được ghi nhận trong số báo tháng 5 của National Geographic—và các nhà nghiên cứu đang đào sâu tìm hiểu một số câu hỏi cấp bách nhất về Mohenjo Daro, bao gồm cả việc liệu nó có từng có những người cai trị thuộc tầng lớp thượng lưu hay không.

Một nghiên cứu mới được công bố hồi đầu tháng này trên tạp chí Antiquity cho thấy rằng trung tâm đa văn hóa này có thể là nơi bình đẳng nhất trong thế giới cổ đại, ít nhất là dựa trên bằng chứng khảo cổ học hiện tại.

Mohenjo Daro là khu định cư lớn nhất của nền văn minh thung lũng Indus cổ đại. Nhiều cuộc khai quật quan trọng đã được tiến hành tại địa điểm này kể từ khi nó được phát hiện vào những năm 1920. Nó nằm ở quận Larkana thuộc tỉnh Sind, Pakistan.

Kích thước điển hình của các công trình xây dựng thuộc nền văn minh sông Indus, đặc biệt là thành phố Mohenjo Daro, có tỷ lệ 4:2:1. Gạch có kích thước xấp xỉ 28 x 14 x 7 cm, với một số biến thể cho việc xây dựng giếng, lò nung hoặc cống rãnh. Gạch được nung trong lò để tăng khả năng chống ẩm và mưa lớn.

Ngài John Marshall, giám đốc Cơ quan Khảo cổ học Anh, người giám sát các cuộc khai quật đầu tiên tại các thành phố thuộc nền văn minh Indus vào những năm 1920, đã ghi nhận sự vắng mặt của các cung điện, lăng mộ hoàng gia và tượng đài, hoặc các công trình liên quan đến giới thượng lưu.

Tuy nhiên, kể từ sau các cuộc khai quật của Marshall, nhiều học giả đã phản bác ý tưởng về một xã hội không có người lãnh đạo. Vào những năm 1960, một số nhà nhân chủng học có ảnh hưởng đã cố gắng đưa sự phát triển của tất cả các xã hội vào một mô hình duy nhất , tiến triển tuyến tính từ các bộ lạc đến các quốc gia. Kết quả là, nhiều nhà khảo cổ học kết luận  rằng nền văn minh Indus chắc chắn phải có một tầng lớp thống trị—và bằng chứng về sự tồn tại của họ đơn giản là chưa được tìm thấy trong lòng đất.

Nhưng Adam Green , một nhà khảo cổ học tại Đại học York ở Anh và là tác giả của bài báo mới, cho rằng nếu các vị vua chúa thực sự tồn tại, họ hẳn đã xuất hiện trong các bằng chứng khảo cổ từ lâu rồi. Ông nói: “Các vị vua không hề kín đáo”.

Kết quả từ nghiên cứu mới của Green cho thấy rằng, khi thành phố Mohenjo-Daro thuộc nền văn minh Indus mở rộng thành một trong những trung tâm đô thị lớn đầu tiên của thế giới cổ đại, nó thậm chí còn trở nên bình đẳng hơn chứ không phải ngược lại.

Những hiện vật và tàn tích còn sót lại của một xã hội cổ đại.

Năm 2020, Green đã công bố một luận điểm ủng hộ chủ nghĩa bình đẳng ở nền văn minh Indus trên Tạp chí Nghiên cứu Khảo cổ học . Green lập luận rằng, sau 100 năm nghiên cứu về nền văn minh Indus, bằng chứng còn thiếu về tầng lớp thượng lưu không phải là một lỗ hổng trong hồ sơ khảo cổ học. Ông nói: “Đôi khi, sự thiếu bằng chứng thực chất lại là bằng chứng của sự vắng mặt”.

Một số đồng nghiệp của ông không tin như vậy. Trong một bài báo sau đó vào năm 2022 trên Tạp chí Khảo cổ học, một số học giả đồng ý rằng nền văn minh Indus có thể không có một người cai trị duy nhất, nhưng họ không cho rằng đó nhất thiết là một xã hội công bằng.

Bản sao của bức tượng \"Cô gái nhảy múa\" là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng thời tiền sử được chế tác bằng phương pháp đúc sáp thất truyền, có niên đại khoảng năm 2300–1751 trước Công nguyên tại Mohenjo Daro.

Nhưng Green cũng nhận thấy nhiều dấu hiệu vật chất của sự bình đẳng. Ví dụ, ông chỉ ra rằng các vật phẩm gắn liền với sự giàu có, như hạt cườm và vòng tay, đã được tìm thấy trong nhiều  ngôi nhà ở các thành phố thuộc nền văn minh Indus như Mohenjo Daro và Harappa.

Các cuộc khai quật tại những khu vực được cho là nơi cư trú cũng đã phát hiện ra hàng ngàn con dấu bằng đá được chạm khắc tinh xảo, được sử dụng để bảo vệ hàng hóa và hỗ trợ thương mại giữa các địa điểm thuộc nền văn minh Indus. Ở các xã hội khác cùng thời, như Mesopotamia, những con dấu tương tự thường được tập trung tại các công trình kiến ​​trúc đồ sộ như đền thờ và cung điện, nơi các nhà cai trị tích trữ hàng hóa.

Green cũng lưu ý bằng chứng về sự quản trị tập thể trong kiến ​​trúc của thành phố. Ở Mohenjo-Daro, những công trình thiếu các đặc điểm thường thấy trong nhà ở của thành phố, như lò sưởi và sân trong, lại được đặt tại các giao lộ quan trọng với lối vào ở nhiều phía, khiến chúng trở nên mở và dễ tiếp cận. Ông lập luận rằng đây là những không gian công cộng nơi mọi người có thể gặp gỡ, đàm phán và phối hợp.

Các học giả thời cổ đại định lượng sự bất bình đẳng như thế nào?

Green đã kiểm chứng lý thuyết về chủ nghĩa bình đẳng của nền văn minh Indus khi ông tham gia một nhóm các nhà nghiên cứu theo dõi các mô hình bất bình đẳng trong hơn 20.000 năm. Nỗ lực này, được gọi là dự án Động lực Toàn cầu của Bất bình đẳng (GINI) , đang nghiên cứu sự phân bố của cải ở 4.000 khu định cư trên khắp thế giới và gán cho mỗi khu định cư một con số mà họ gọi là hệ số Gini.  Điểm số dao động từ 0, thể hiện sự bình đẳng hoàn toàn, đến 1, phản ánh sự bất bình đẳng tối đa.

Bằng cách nghiên cứu chỉ một khu phố ở Mohenjo Daro, các nhà nghiên cứu về bất bình đẳng trong thế giới cổ đại đã tính toán được một điểm số cho thấy đây là một xã hội có tính bình đẳng cao.

Để phân tích sự bình đẳng ở thung lũng Indus, Green và các đồng nghiệp đã xem xét các ngôi nhà Mohenjo Daro được khai quật vào đầu thế kỷ 20. ^(Họ) sử dụng kích thước nhà ở như một thước đo gián tiếp cho sự giàu có, giả định rằng sự khác biệt về kích thước nhà ở thể hiện sự bất bình đẳng. 

Khi hệ số Gini của Mohenjo Daro được tính toán và công bố trên cơ sở dữ liệu dự án GINI vào năm 2025, nó đạt mức 0,44. Mặc dù kết quả cho thấy nền văn minh Indus bình đẳng hơn các thành phố khác ở Tây Á vào thời điểm đó, chẳng hạn như Ur (0,71) và Ugarit (0,67), nhưng con số này vẫn "cao hơn tôi dự đoán", Green nói. Tuy nhiên, Green nghi ngờ rằng con số đó bị sai lệch do bộ dữ liệu trải dài gần 1.000 năm, từ năm 2500 đến 1900 trước Công nguyên.   

Trong nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu đã theo dõi chỉ số Gini theo thời gian tại một khu phố duy nhất ở Mohenjo-Daro  , nơi dữ liệu có sẵn cho phép họ phân nhóm các ngôi nhà dựa trên tuổi đời. Trong khi chỉ số Gini bắt đầu ở mức khoảng 0,39 vào năm 2500 TCN, nó giảm xuống còn 0,32 vào giai đoạn giữa của nền văn minh vào năm 2300 TCN. Đến năm 2100 TCN, giai đoạn phát triển mạnh nhất của thành phố, chỉ số này đạt mức 0,23—thấp tương đương với các cộng đồng thời kỳ đồ đá mới nhỏ hơn và kém phức tạp hơn nhiều.

Sự gia tăng rõ rệt về bình đẳng cũng trùng hợp với sự gia tăng tổ chức cộng đồng và sự thịnh vượng, chẳng hạn như việc thiết lập hệ thống lưới đường phố và các ngôi nhà tiêu chuẩn hóa hơn với sân trong và sàn tắm, điều này cho thấy Green nhận định rằng xã hội Indus trở nên bình đẳng hơn theo thời gian.

Tại sao vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp?

Một số đồng nghiệp của Green cho rằng cách nhìn mới này về sự bất bình đẳng ở Mohenjo Daro chỉ đơn thuần là một dữ liệu thú vị.

Các hiện vật được tìm thấy tại Mohenjo Daro bao gồm một con bò đực đang ăn ở máng hoặc uống nước (trên), một bức tranh mô tả hoạt động thờ cúng trong đời sống đô thị (trái) và một bức tượng nhỏ tượng trưng cho một con vật (phải).

“Tôi nghĩ kết quả này rất thú vị. Nếu chúng ta chấp nhận kích thước nhà ở như một thước đo gián tiếp, thì rõ ràng chúng cho thấy sự thay đổi theo thời gian cùng với sự gia tăng hoạt động thương mại trên các con phố,” Danika Parikh , một nhà khảo cổ học tại Đại học Sussex, người đã từng hợp tác với các tác giả trước đây nhưng không tham gia vào nghiên cứu mới này, cho biết. “Mohenjo Daro là một địa điểm đặc biệt, vì vậy sẽ rất thú vị nếu xem xét những kết quả này trong bối cảnh so sánh với một số thành phố khác thuộc nền văn minh Indus.”

Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/history/article/indus-valley-egalitarian-ancient-society-mohenjo-daro

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Hấp dẫn không phải là lực, mà là sự biến dạng của không-thời gian 🌌🌀

Theo thuyết tương đối tổng quát của Einstein, các vật thể có khối lượng không "hút" nhau qua khoảng không trống rỗng. Thay vào đó, chúng uốn cong cấu trúc không-thời gian xung quanh, tạo ra các "giếng" mà các vật thể khác buộc phải di chuyển theo đường cong đó, tạo ra hiệu ứng mà chúng ta gọi là trọng lực.

🌞 Sự tương tác này là "keo dán" giữ cho các thiên hà không bị tan rã và các hành tinh không bay văng khỏi quỹ đạo. Nếu lực hấp dẫn biến mất trong một giây, mọi vật chất trên Trái Đất sẽ bị văng ra không gian theo đường thẳng với vận tốc tự quay của hành tinh, tương đương với việc bạn đang ngồi trên một chiếc xe đua đột ngột dừng lại ở tốc độ khoảng 1.670 km/h tại xích đạo.

——

🚀 Kính thiên văn James Webb đã chứng minh hiện tượng thấu kính hấp dẫn, nơi khối lượng khổng lồ của các cụm thiên hà bẻ cong ánh sáng từ những vật thể xa xôi phía sau chúng. Điều này cho phép chúng ta quan sát được những thiên hà cổ xưa nhất, vốn nằm ngoài tầm nhìn trực tiếp, giống như việc sử dụng một chiếc kính lúp khổng lồ được tạo ra bởi chính cấu trúc của vũ trụ.

——

🌌 Lực hấp dẫn mạnh đến mức tại chân trời sự kiện của một lỗ đen, vận tốc thoát ly vượt quá tốc độ ánh sáng (khoảng 300.000 km/s, chính xác là 299.792 km/s). Để hình dung, nếu bạn muốn thoát khỏi chân trời sự kiện của lỗ đen siêu khối lượng Sagittarius A ở tâm Ngân Hà, bạn cần di chuyển nhanh gấp khoảng 1,2 triệu lần tốc độ của một chiếc máy bay phản lực thương mại hiện đại nhất (khoảng 900 km/h).

Cre: Vũ trụ kì thú

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Thế kỉ 17, khi tử thần chạy KPI toàn cầu cùng bóng ma Tiểu Băng Hà

Nếu Tử thần thực sự có một bảng KPI cần hoàn thành, thì thế kỷ 17 chắc chắn là giai đoạn nhân viên mẫn cán này được phong danh hiệu xuất sắc nhất. Chỉ trong vòng vài thập kỷ ngắn ngủi, cỗ máy tử vong đã quét qua gần như mọi nền văn minh lớn nhất trên lục địa Á - Âu.

Ở Á Đông, nhà Minh sụp đổ trước nhà Thanh, kéo sinh mạng của khoảng 25 - 40 triệu người. Trước khi quân Thanh tiến vào Bắc Kinh, nhà Minh đã bị khoét rỗng bởi khủng hoảng tài chính, mất mùa, dịch bệnh và những cuộc nổi dậy khổng lồ. Lý Tự Thành chiếm Bắc Kinh, Sùng Trinh Đế tự vẫn. Sau đó quân Mãn Châu vượt Sơn Hải Quan, nhưng việc thống nhất Trung Quốc còn kéo dài hàng chục năm, với chiến tranh chống các chính quyền Nam Minh và những lực lượng khác.

Ở vùng băng tuyết, nước Nga chìm trong "Thời kỳ Đại Loạn" (Time of Troubles) - một món lẩu gồm khủng hoảng kế vị, nội chiến, những ông vua giả Dmitrii, nổi dậy và sự can thiệp của Ba Lan–Litva. Đặc biệt, nạn đói 1601–1603 đẩy tình hình tới bờ vực. Đến năm 1613, Mikhail Romanov được đưa lên ngai vàng, mở đầu vương triều Romanov tồn tại hơn ba thế kỷ.

Còn ở Trung Âu, từ 1618 đến 1648 diễn ra Chiến tranh Ba Mươi Năm biến hàng trăm đô thị phồn hoa thành bãi tro tàn. Một cuộc xung đột ban đầu mang đậm màu sắc Công giáo–Tin Lành cuối cùng trở thành cuộc chiến hỗn loạn giữa quyền lực của hoàng đế Habsburg, quyền lợi của các thân vương Đức, rồi Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp, Tây Ban Nha…

Chiến tranh Ba Mươi Năm vừa kết thúc năm 1648 thì phía đông châu Âu lại chuẩn bị bước vào một cơn bão khác. Liên bang Ba Lan–Litva trước đó là một trong những quốc gia rộng và hùng mạnh nhất châu Âu. Nhưng từ cuộc nổi dậy Khmelnytsky năm 1648, chiến tranh với Nga, rồi cuộc xâm lược của Thụy Điển năm 1655 – thứ người Ba Lan gọi đơn giản là “Đại Hồng Thủy” (Potop, The Deluge) – đất nước bị cuốn vào một chuỗi chiến tranh liên tục. Nhiều đô thị ở Litva mất từ 40 đến 90% dân số; sự tàn phá vật chất cũng khủng khiếp, từ thành phố, nhà thờ tới thư viện và kho lưu trữ.

Thế thì tại sao cả bỗng nhiên cả thế giới lại cùng phát sốt?

Vấn đề thực sự nằm ở trên trời. Theo nghĩa đen.

Chào mừng đến với "Cuộc khủng hoảng chung thế kỷ 17" (The General Crisis), một chuỗi phản ứng dây chuyền được kích hoạt bởi hiện tượng khí hậu cực đoan mang tên Tiểu Băng Hà (Little Ice Age).

Đó là lúc nhiệt độ toàn cầu đột ngột hạ thấp. Mùa đông kéo dài hơn, mùa hè mát lạnh đi không khiến thời tiết trở nên dễ chịu hơn, mà khiến mưa bão trở nên thất thường. Với chúng ta ngày nay, nhiệt độ giảm vài độ C có nghĩa là mặc thêm một chiếc áo khoác. Nhưng ở thế kỷ 17, khi năng lực quốc gia cắm rễ hoàn toàn vào sản lượng nông nghiệp, vài độ C đó là một bản án tử hình.

Cơ chế vận hành của thảm họa này vô cùng đơn giản nhưng tàn nhẫn: Trời lạnh dẫn đến mùa màng thất bát, mùa màng thất bát dẫn đến nạn đói. Khi nông dân đói, họ không thể đóng thuế lương thực. Khi không thu được thuế, triều đình cạn kiệt ngân khố. Khi triều đình hết tiền, binh lính ở tiền tuyến không được trả lương và cắt xén khẩu phần. Một người đàn ông có vũ trang mà không có lương thực sẽ rất nhanh chóng chuyển nghề thành thổ phỉ, hoặc quay giáo làm phản.

Nhà Minh không chỉ thua vì kỵ binh Bát Kỳ của người Mãn Châu dũng mãnh. Họ thua vì hạn hán kinh khủng kéo dài diễn ra vào thời điểm mà xã hội của họ đang yếu ớt nhất. Lương thực không mọc nổi ở phương Bắc lạnh lẽo, triều đình không có tiền cứu trợ, những nông dân chết đói buộc phải đi theo Lý Tự Thành để tìm đường sống. Cùng lúc đó, lính biên phòng không có quân lương cũng quyết định gia nhập luôn phe nổi dậy. Và giới quan lại quý tộc thì có quá nhiều đặc quyền để chấp nhận chung chi cứu vớt quốc gia.

Ở phía bên kia bán cầu, Chiến tranh Ba Mươi Năm ở châu Âu nhanh chóng thoát khỏi vỏ bọc thánh chiến tôn giáo để lộ ra bản chất của một cơn ác mộng. Không một vị vua nào đủ tiền túi để nuôi các đạo quân hàng vạn người đánh nhau ròng rã hàng chục năm. Các đạo quân khổng lồ này biến thành những bầy châu chấu vũ trang, di chuyển liên tục từ vùng này sang vùng khác, áp dụng triệt để nguyên tắc "chiến tranh nuôi chiến tranh". Bất cứ nơi nào họ đi qua, cỏ không mọc được – theo nghĩa đen. "Đại Hồng Thủy" ở Ba Lan cũng vậy; làn sóng quân Thụy Điển tràn ngập, vắt kiệt và thiêu rụi mọi thứ trên đường hành quân.

Sử gia Geoffrey Parker thậm chí lưu ý rằng riêng giữa thế kỷ XVII đã xuất hiện số trường hợp nhà nước đồng loạt rơi vào khủng hoảng và tan rã nhiều đến mức hiếm thấy trong lịch sử trước đó.

Tất nhiên, xã hội hiếm khi sụp đổ chỉ vì một nguyên nhân. Khí hậu xấu không nhất thiết tạo ra chiến tranh. Chiến tranh cũng không nhất thiết làm một nhà nước tan rã. Nhưng khi mất mùa, dịch bệnh, khủng hoảng tài chính, tranh giành quyền lực và chiến tranh cùng xuất hiện, những hệ thống tưởng như vững chắc có thể đổ rất nhanh.

Năm 1600, chẳng mấy ai ở Bắc Kinh, Moskva hay Praha nghĩ rằng mình đang bước vào một trong những giai đoạn hỗn loạn nhất của thời cận đại.

Cre: Thế Giới Ngày Xưa Không Nhạt Lắm

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Du hành giữa các vì sao có thể sớm trở thành hiện thực.

Việc xác nhận gần đây về sự hiện diện của bầu khí quyển xung quanh một hành tinh đá ngoài hệ mặt trời có tên LHS 1140b đã tạo ra một làn sóng quan tâm trong cộng đồng thiên văn học. Hành tinh này quay quanh ngôi sao mẹ của nó – một sao lùn đỏ nằm trong vùng có thể sống được, cách Trái đất khoảng 48 năm ánh sáng.

Vùng có thể sinh sống là khu vực xung quanh ngôi sao nơi nhiệt độ vừa phải để nước có thể tồn tại ở dạng lỏng trên bề mặt hành tinh . Các nhà thiên văn học đã phát hiện khí heli bị mất đi từ tầng khí quyển phía trên của LHS 1140b . Nhưng các hợp chất hóa học nặng hơn, chẳng hạn như nước, một thành phần quan trọng cho sự sống, có thể tồn tại ở các tầng khí quyển thấp hơn .

Việc quan sát các hành tinh ngoài hệ mặt trời ở xa bằng kính viễn vọng mở ra những cánh cửa mới cho khoa học, nhưng liệu việc du hành đến những thế giới này và quan sát chúng cận cảnh có bao giờ trở thành hiện thực? Mặc dù điều này thường được xem là chuyện viễn tưởng cho đến nay, nhưng các công nghệ mới nổi cho phép chúng ta hình dung ra một tương lai nơi những sứ mệnh như vậy có thể khả thi trong những thập kỷ tới.

Hiện nay, người ta đặc biệt quan tâm đến các tàu vũ trụ thu nhỏ dành cho các chuyến du hành giữa các vì sao. Phần lớn là vì việc phóng một tàu vũ trụ nhỏ đến một hệ sao khác – và hoàn thành trong suốt cuộc đời của một người – dễ dàng và tiết kiệm chi phí hơn so với việc sử dụng một phương tiện lớn.

Việc thu nhỏ các cảm biến đã có những bước tiến vượt bậc, ví dụ như thông qua công nghệ điện thoại thông minh, nơi các camera có khả năng cao với khối lượng, công suất và kích thước nhỏ được sử dụng thường xuyên. Các nhà nghiên cứu thậm chí đã phát triển "bụi thông minh" ; các cảm biến có kích thước milimet hoặc nhỏ hơn có thể phát hiện ánh sáng, nhiệt độ hoặc hóa chất.

Bản thân tàu thăm dò không gian sẽ cần một hệ thống đẩy có khả năng tăng tốc nó lên tốc độ tương đối nhẹ, khoảng 10-20% tốc độ ánh sáng. Sau hành trình kéo dài nhiều thập kỷ, các cảm biến sẽ đi xuyên qua hệ sao mục tiêu mà không dừng lại, thực hiện quan sát tại chỗ và sau đó từ từ truyền dữ liệu về Trái đất.

Tuy không hoàn toàn giống như phim Star Trek, nhưng đây là một ý tưởng khả thi cho phép chúng ta nghiên cứu các ngôi sao lân cận và các hành tinh của chúng một cách cận cảnh. Khái niệm này đã được tích cực theo đuổi bởi một dự án được tài trợ bởi các tổ chức từ thiện có tên là Breakthrough Starshot . Chương trình này đã nghiên cứu các công nghệ then chốt cần thiết cho một chuyến du hành giữa các vì sao bằng cách sử dụng các tàu thăm dò nhỏ.

Cánh buồm ánh sáng được xem là một trong những hình thức đẩy phù hợp nhất cho nhiệm vụ này. Đúng như tên gọi, chúng là những màng mỏng phản chiếu ánh sáng.

Cánh buồm ánh sáng có thể đẩy tàu vũ trụ bằng năng lượng mặt trời.

Đối với du hành giữa các vì sao, năng lượng định hướng từ tia laser có thể được sử dụng để đẩy tàu vũ trụ tiến về phía trước. Photon, các gói năng lượng lượng tử cấu thành nên ánh sáng, vận chuyển cả động lượng lẫn năng lượng. Do đó, khi ánh sáng phản xạ từ gương, nó tạo ra áp lực lên gương.

Trong hầu hết các trường hợp, áp suất do ánh sáng gây ra là rất nhỏ, không thể cảm nhận được. Tuy nhiên, với một chùm ánh sáng đủ mạnh và một gương màng siêu nhẹ, áp suất ánh sáng có thể đóng vai trò như một phương tiện đẩy tàu vũ trụ.

Để tăng tốc cánh buồm ánh sáng lên tốc độ tương đối, cần một tia laser mạnh mẽ, với công suất hiệu dụng lên đến hàng chục gigawatt. Đây không phải là một thiết bị duy nhất. Thay vào đó, nó có thể bao gồm một mảng các thiết bị laser riêng biệt được đồng bộ hóa với nhau để tạo ra một chùm ánh sáng kết hợp.

Tăng tốc lên các vì sao

Việc đẩy một cánh buồm phản quang rộng vài mét bằng tia laser như vậy sẽ giúp cánh buồm đạt tốc độ hành trình chỉ trong vài phút.

Ưu điểm của hệ thống đẩy bằng chùm tia laser là cụm laser được để lại phía sau và chỉ một lượng tải trọng nhỏ được gia tốc lên các vì sao. Ngược lại, tên lửa thông thường phải tự mang theo nhiên liệu, điều này khiến chúng gặp bất lợi nghiêm trọng đối với các nhiệm vụ đòi hỏi năng lượng cực cao như vậy.

Nhược điểm của hệ thống đẩy bằng năng lượng chùm tia là tải trọng không thể dễ dàng dừng lại, do đó tàu thăm dò sẽ chỉ đi qua hệ sao mục tiêu trong vài ngày.

Các kỹ sư tại Trung tâm Nghiên cứu Langley của NASA đang kiểm tra một cánh buồm năng lượng mặt trời. Khi bung ra, cánh buồm có kích thước khoảng 30 feet (khoảng chín mét) ở một cạnh.

Mặc dù việc chế tạo những cánh buồm ánh sáng sử dụng tia laser công suất nhiều gigawatt có vẻ hơi viển vông ở thời điểm hiện tại do quy mô khổng lồ của dự án, nhưng những tiến bộ trong công nghệ thu nhỏ có thể mở đường cho các nút cảm biến thông minh siêu nhỏ trở thành những nhà du hành liênstellar đầu tiên của chúng ta.

Có lẽ chúng ta sẽ bắt đầu hành trình đến các vì sao với một trí tuệ nhân tạo (AI) ngủ yên trong nhiều thập kỷ, cho đến khi nó thức tỉnh và hoạt động điên cuồng trong vài ngày, khi những cỗ máy thay thế này lần đầu tiên được chiêm ngưỡng các thế giới xa lạ.

Ngoài việc sử dụng tia laser công suất gigawatt để đẩy cánh buồm ánh sáng, màng phản chiếu cũng có thể được đẩy bởi áp suất ánh sáng từ Mặt trời. Những "cánh buồm mặt trời" này có một lịch sử lâu đời và phong phú, lần đầu tiên được đề xuất vào những năm 1920 bởi Konstantin Tsiolkovsky và Friedrich Tsander, hai trong số những nhà tiên phong vĩ đại của ngành du hành vũ trụ Nga. Tsiolkovsky đã viết về việc sử dụng " những tấm gương khổng lồ làm từ những tấm rất mỏng ".

Công cụ để khám phá

Trong khi cánh buồm ánh sáng đẩy bằng laser là công nghệ của tương lai, thì cánh buồm năng lượng mặt trời lại là công nghệ của hiện tại. Một số cánh buồm năng lượng mặt trời nhỏ đã được phóng lên quỹ đạo Trái đất để trình diễn công nghệ. Việc mở rộng quy mô cánh buồm năng lượng mặt trời cho các sứ mệnh không gian sâu có thể cung cấp một bộ công cụ mới để khám phá hệ mặt trời của chúng ta.

Thứ nhất, vì cánh buồm năng lượng mặt trời không cần mang theo nhiên liệu, chúng có khả năng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi năng lượng cao và thời gian dài, một số nhiệm vụ gần như bất khả thi đối với tàu vũ trụ thông thường. Ví dụ, việc tiếp cận một sao chổi chu kỳ dài trên quỹ đạo hình elip hoặc có độ nghiêng lớn quanh Mặt trời đòi hỏi một lượng năng lượng đáng kể.

Hơn nữa, việc mang mẫu vật bề mặt từ một sao chổi như vậy về Trái đất càng trở nên khó khăn hơn. Với động cơ tên lửa thông thường, tàu vũ trụ cần mang theo nhiên liệu cho toàn bộ hành trình trở về sao chổi mục tiêu.

Đối với tàu vũ trụ sử dụng cánh buồm năng lượng mặt trời, việc quay trở lại Trái đất không khác nhiều so với việc tiếp cận sao chổi ban đầu. Cánh buồm năng lượng mặt trời có thể "chuyển hướng" bằng cách nghiêng cánh buồm để tăng tốc và xoay tròn ra xa Mặt trời, hoặc lật cánh buồm để giảm tốc và xoay tròn trở lại hướng Mặt trời.

Cánh buồm năng lượng mặt trời cũng có thể di chuyển theo các quỹ đạo phi truyền thống bằng cách sử dụng áp suất nhẹ để bù lại trọng lực. Ví dụ, điều này có thể cho phép một cánh buồm năng lượng mặt trời lơ lửng cố định ở độ cao phía trên các cực của Trái đất.

Cánh buồm năng lượng mặt trời và cánh buồm ánh sáng là những bước đệm từ hiện tại đến tương lai, từ việc khám phá hệ mặt trời của chính chúng ta đến việc khám phá những vì sao xa xôi. Có lẽ hành tinh ngoài hệ mặt trời LHS 1140b sẽ được một cánh buồm ánh sáng ghé thăm vào một thời điểm nào đó trong tương lai.

Nguồn: https://gizmodo.com/interstellar-travel-may-soon-be-within-reach-2000795897

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago
▲ 41 r/NamQuoc+1 crossposts

Khi bạn mang tư duy doanh nhân đi chơi trò sinh tồn

Nếu bạn từng chơi Total war Rome 2, chắc hẳn bạn sẽ khá khó hiểu khi nhìn bản đồ và đọc sử. Tại sao Carthage lại có thể thua Rome?

Carthage thế kỷ III TCN không phải một thành phố thương mại hiền lành vô tình bị Rome bắt nạt và thâu tóm như các vương quốc – bộ lạc quanh bán đảo Ý. Đó là một cường quốc biển đã tranh giành Sicily với các thành bang Hy Lạp suốt nhiều thế hệ, xây dựng mạng lưới ảnh hưởng từ Bắc Phi sang Sardinia, Iberia và các đảo phía tây Địa Trung Hải. So với Rome, Carthage rộng lớn hơn, giàu có hơn, thậm chí có những vùng đất trù phú không kém gì bán đảo Ý.

Và họ còn có cả Hannibal Barca.

Câu trả lời nằm ở chỗ họ đánh nhau như những thương nhân.

Carthage không phải là một quốc gia của những chiến binh, họ là một nền cộng hòa của giới thương gia. Với người La Mã, chiến tranh là một lối sống, là nấc thang chính trị bắt buộc; bạn khó lòng thăng tiến nếu chưa từng khoác áo lính. Nhưng với giới tinh hoa Carthage, chiến tranh đơn thuần là rủi ro kinh doanh.

Khi cần đánh nhau, hệ thống của Carthage vận hành theo kiểu "thuê ngoài" (outsourcing). Họ mở cái kho bạc khổng lồ của mình ra và đi chợ: mua kỵ binh Numidia, lính ném đá Balearic, bộ binh đánh thuê Iberia. Tại sao công dân Carthage phải đổ máu trên chiến trường trong khi họ có thể ngồi ở nhà đếm tiền và trả lương cho kẻ khác làm việc đó? Cách làm này rất hiệu quả trong những cuộc xung đột quy mô nhỏ, nơi đối phương cũng chỉ là các thành bang Hy Lạp nhỏ lẻ và mọi thứ kết thúc bằng một bản hiệp ước.

Nhưng mọi thứ hoàn toàn đổ vỡ khi họ đụng độ La Mã.

La Mã không đánh nhau để tính lãi lỗ. Họ vận hành cỗ máy chiến tranh tổng lực. Khi Carthage thua trong cuộc Chiến tranh Punic lần thứ nhất và đánh mất hòn đảo Sicily trù phú, giới tài phiệt Carthage nhìn nhận thất bại này như một quý kinh doanh bết bát. Họ chép miệng, cắt lỗ, ký hiệp ước bồi thường chiến phí và quay lại với nghề bán thuốc nhuộm tím.

Thất bại ở Sicily khiến họ phải rút khỏi đảo và trả một khoản chiến phí lớn. Ngay sau đó, những binh sĩ chưa được thanh toán đầy đủ nổi loạn; nhiều cộng đồng Bắc Phi cũng tham gia. Cuộc chiến này, thường gọi là Mercenary War hay “Chiến tranh không đình chiến”, suýt nữa đánh sập Carthage từ bên trong. Hamilcar Barca — cha Hannibal — chính là một trong những người cứu được tình thế.

Trong lúc Carthage vừa bò ra khỏi cuộc nội chiến, Rome chiếm Sardinia và buộc họ nộp thêm 1.200 talent. Carthage lúc ấy quá kiệt quệ để lại đánh một cuộc chiến mới nên phải nhượng bộ. Và sự phẫn uất quanh vụ Sardinia là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới cuộc chiến tiếp theo. Dù vậy, phần lớn lãnh đạo Carthage vẫn nghĩ rằng chỉ cần ngoan ngoãn giao thương, La Mã sẽ giữ lời hòa bình.

Tuy nhiên, gia tộc Barca thì hiểu rõ kẻ thù của mình hơn, biết rằng La Mã sẽ không bao giờ dừng lại cho đến khi Carthage bị xoá sổ. Họ sang Iberia từ năm 237 TCN mở server riêng để chuẩn bị cho chiến tranh.

Hamilcar, rồi Hasdrubal và cuối cùng Hannibal đã biến miền nam và đông Iberia thành nguồn bạc, binh lính và quyền lực mới cho Carthage. Khi Hannibal dẫn quân vượt dãy Alps giáng những đòn kinh thiên động địa vào ngay trên đất Ý, phản ứng của giới chóp bu tại quê nhà Carthage là gì? Tần tiện đến mức mù quáng. Họ từ chối rót thêm viện trợ. Họ đổ lỗi cho nhà Barca tự ý gây sự. Thay vì dồn toàn lực tiếp tế để kết liễu một kẻ thù đang lảo đảo, họ chọn cách ôm khư khư túi tiền, hy vọng La Mã sẽ tự sụp đổ và hai bên lại có thể ngồi vào bàn đàm phán thương mại.

Sự keo kiệt của những tay buôn đã tước đi cơ hội chiến thắng duy nhất của chính họ. Bạn không thể dùng tư duy "hòa vốn" để đối phó với một kẻ thù sẵn sàng nướng hàng chục vạn thanh niên của chính nước họ vào lò lửa chỉ để giành chiến thắng cuối cùng. La Mã thua trận này, họ lập tức đẻ ra một đạo quân mới. Carthage hết tiền, lính đánh thuê của họ lập tức bỏ đi.

Đến khi Scipio Africanus của La Mã mang quân đổ bộ thẳng lên đất Bắc Phi, Carthage mới thực sự hoảng loạn. Lúc này, tiền không thể ngay lập tức biến thành một đội quân tinh nhuệ bảo vệ kinh thành. Theo các ghi chép cổ đại, trong cơn tuyệt vọng, người Carthage đã ném hàng loạt trẻ em vào lò lửa Tophet để hiến tế cho thần Baal. Dù ngày nay giới nghiên cứu vẫn còn tranh luận gay gắt xem đây là sự thật lịch sử hay chỉ là màn tuyên truyền bôi nhọ ác ý của người La Mã, điều đó vẫn phản ánh một thực tế bất lực: khi mối đe dọa chực chờ trước cổng, họ tìm kiếm phép màu thay vì chuẩn bị một cơ chế phòng thủ thực tế từ trước.

Thành phố Carthage bị san phẳng, người dân bị bán làm nô lệ, và đế chế vĩ đại ấy bị xóa sổ. Cuộc chơi quyền lực thời cổ đại không có chỗ cho những người đứng giữa chiến trường sinh tử mà lại đi đàm phán giảm giá. Sự sụp đổ của Carthage là một lời nhắc nhở, khi bạn sở hữu một khối tài sản khổng lồ nhưng lại từ chối tự mình cầm kiếm bảo vệ nó, thì sớm muộn gì cũng có kẻ đến lấy chúng.

Cre: Sử Đông Sử Tây

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Tầng điện ly: Tấm khiên vô hình bao bọc hành tinh

Tầng điện ly không phải là một lớp vật chất rắn, mà là một vùng khí quyển bị ion hóa mạnh mẽ bởi bức xạ cực tím và tia X từ Mặt Trời. Tại đây, các nguyên tử bị tách rời thành các electron tự do và ion dương, tạo nên một môi trường plasma dẫn điện bao quanh Trái Đất ở độ cao từ 60 đến 1.000 km.

Lớp plasma này đóng vai trò như một tấm gương phản xạ sóng vô tuyến, cho phép tín hiệu liên lạc truyền đi xa hơn đường chân trời thay vì bay thẳng vào không gian. Tuy nhiên, khi Mặt Trời hoạt động mạnh, các cơn bão từ có thể làm nhiễu loạn tầng này, gây gián đoạn hệ thống định vị GPS và làm quá tải lưới điện mặt đất, tương tự như việc một dòng điện cực mạnh đột ngột xông vào làm cháy các thiết bị điện tử nhạy cảm trong nhà bạn.

Các vệ tinh như GRACE-FO đang liên tục đo đạc mật độ electron trong tầng điện ly để lập bản đồ biến động của nó. Thông qua việc phân tích sự chậm trễ của tín hiệu vệ tinh khi đi xuyên qua lớp plasma này, các nhà khoa học có thể tính toán chính xác độ dày của tầng điện ly, tương tự như cách chúng ta đo độ sâu của đại dương bằng cách thả sóng âm xuống đáy biển.

Tầng điện ly trải dài tới 1.000 km so với bề mặt Trái Đất, một khoảng cách đủ để xếp chồng 80 hành tinh có kích thước bằng Trái Đất lên nhau. Dù bao bọc lấy chúng ta mỗi ngày, nhưng mật độ hạt tại đây lại loãng đến mức ngay cả trong những vùng đậm đặc nhất, số lượng hạt vẫn ít hơn hàng tỷ lần so với không khí bạn đang hít thở, nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của lớp bảo vệ đang giữ cho nền văn minh công nghệ được vận hành ổn định.

Cre: Vũ Trụ Kì Thú

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

BỘ ĐỘI CHỈ CÒN LÀ NƯỚC SÔNG CÔNG LÍNH VÀ NẠN NHÂN CỦA BẠO LỰC NỘI BỘ

Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định nhiều gia đình khá giả vẫn muốn con em nhập ngũ để rèn kỷ luật. Lời nói ấy nhìn thẳng vào thực tế nghĩa vụ quân sự bắt buộc thời bình dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bức tranh lại khác xa hình ảnh đội quân mạnh, chính quy được tuyên truyền.

Ở nhiều đơn vị, lính nghĩa vụ không được đào tạo chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế, nơi binh sĩ được huấn luyện kỹ năng chiến đấu hiện đại, trang bị công nghệ và bảo vệ quyền lợi rõ ràng. Thay vào đó, họ thường trở thành nước sông công lính, là lực lượng lao động miễn phí cho cấp trên. Xây dựng doanh trại, trồng cây, làm đường, phục vụ công trình kinh tế quốc phòng… trở thành công việc thường ngày, trong khi huấn luyện chiến đấu thực chất bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Kết quả là một lực lượng đông nhưng thiếu chuyên nghiệp, khó đáp ứng yêu cầu quốc phòng hiện đại.

Nghiêm trọng hơn là tình trạng ức hiếp, bạo lực nội bộ. Vụ binh nhì Trần Đức Đô (2021) từng gây chấn động: gia đình tố bị đánh đập dẫn đến tử vong với nhiều vết thương, trong khi cơ quan điều tra quân đội kết luận tự treo cổ và không khởi tố. Dù kết luận chính thức phủ nhận hành hung, dư luận và một số cựu quân nhân vẫn đặt dấu hỏi về tính minh bạch và khả năng bao che. Các vụ khác cũng liên tục xuất hiện: Nguyễn Văn Thiên (Gia Lai, 2021) ban đầu được thông báo đột quỵ, sau đó cơ quan chức năng phải thừa nhận bị đồng đội đánh chết và kết án năm người; Nguyễn Văn Hào (Ba Vì, 2023) tử vong với gãy xương sườn, gia đình khẳng định bị hành hung; gần đây nhất là Nguyễn Văn Nghiệp (Bắc Giang, 2025), người từng gọi điện về tố bị chỉ huy đánh đập trước khi qua đời, trong khi đơn vị kết luận do bệnh.

Những cái chết bất thường, lời tố cáo bị ức hiếp rồi kết luận tự nhiên hoặc tự tử lặp lại nhiều lần khiến niềm tin bị bào mòn. Nghĩa vụ bắt buộc thời bình, nếu không đi kèm đào tạo chuyên nghiệp, bảo vệ quyền lợi và kiểm soát bạo lực nội bộ, dễ biến thành gánh nặng cho thanh niên và nguồn lao động rẻ mạt cho hệ thống, thay vì xây dựng một đội quân tinh nhuệ thực sự.

Cre: Chân Trời Mới Media

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Edo Wazurai - Bệnh lạ chỉ uy hiếp tính mạng của quan chức quý tộc và nhà giàu Nhật Bản mà không lây cho người nghèo

Vào thời Edo (1603-1868), người dân truyền tai nhau về căn bệnh lạ của người giàu, một lời nguyền bệnh tật “ám” lên những ai sống trong nhung lụa.

1. Căn bệnh này được gọi là “Edo wazurai” hay "bệnh Edo", nhưng nó thực chất là gì?

“Edo wazurai” (江戸わずらい) có nghĩa là “bệnh Edo”, đây là tên gọi dân gian của bệnh tê phù hay bệnh Beriberi vào thời Edo (1603-1868), sinh ra do cơ thể thiếu hụt vitamin B1 nghiêm trọng.

Bệnh này bắt đầu phổ biến vào thời Edo và chủ yếu ảnh hưởng đến người giàu do thói quen ăn gạo trắng đã xay xát kỹ. Vì vậy mà Edo wazurai còn được gọi là căn bệnh của sự xa hoa.

2. Căn bệnh "chỉ có tại Edo"

Trong cuốn y thư Gyuzan Kattou (牛山活套) của danh y Katsuki Gyuzan có viết về một căn bệnh bí ẩn chỉ xuất hiện tại thành Edo - nơi đặt căn cứ của Mạc phủ Tokugawa, vào cuối thế kỷ 18.

Sách viết rằng: “Những viên quan lại và thương nhân giàu có đã mắc chứng bệnh lạ. Ban đầu khi mắc bệnh, họ thấy chân tay nặng nề, sưng phù, khó chịu và chán ăn, sau đó thì khó thở, tim yếu dần rồi suy kiệt mà ra đi. Người ta gọi bệnh này là Edo wazurai vì nó chỉ xuất hiện tại thành Edo. Nhưng có điều kỳ lạ là hễ ai đổ bệnh thì chỉ cần rời Edo, băng qua núi Hakone, bệnh tự nhiên lành lại.”

Đến những năm 1800, bệnh đã lan rộng khắp thành Edo. Trong cuốn sách Beriberi in Modern Japan: The Making of a National Disease (Bệnh tê phù ở Nhật Bản hiện đại: Sự hình thành một căn bệnh quốc gia), tác giả Alexander R. Bay đã mô tả nỗ lực của các thầy lang nhằm tìm ra nguyên nhân và cách chữa bệnh.

Thời đó, các thầy thuốc đã kê đơn thuốc thảo dược, đốt ngải cứu khô trên cơ thể bệnh nhân. Họ phỏng đoán nguyên nhân gây bệnh là do nước và đất của vùng Edo. Độ ẩm cao của vùng này khiến mầm bệnh phát triển còn nơi khác thì không, vì vậy bệnh nhân thường được chuyển về vùng quê để điều trị.

Tuy nhiên, điều kỳ lạ là ngay tại Edo, căn bệnh này cũng chỉ xuất hiện ở những người giàu có, khá giả còn người nghèo được loại trừ. Các thầy lang đau đầu tìm nguyên nhân, còn người dân thì đồn đoán rằng Edo wazurai chính là lời nguyền ám lên những kẻ giàu có.

3. Bùng phát thành dịch

Vào năm 1877, căn bệnh lạ Edo wazurai khiến Hoàng gia Nhật Bản lao đao. Chikako hay Công chúa Kazu đã qua đời ở tuổi 31 sau khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh này. Trước đó chồng bà là Tokugawa Iemochi (1846-1866) - vị shogun thứ 14 của Mạc phủ Tokugawa cũng mất với nguyên nhân được cho là tương tự.

Lời nguyền Edo wazurai càng khiến dân chúng khiếp sợ hơn khi đến thời Minh Trị Duy tân, không chỉ giới thượng lưu, quý tộc và thương nhân khá giả, bệnh đã lan rộng trong quân đội.

Vào năm 1883, 120 trong số 1.000 thủy thủ Nhật Bản mắc bệnh.

Đến năm 1904, trong Chiến tranh Nga-Nhật đã có 27.000 binh sĩ mất mạng vì bệnh. Đến lúc này nguyên nhân gây bệnh đã được phát hiện.

4. Gạo trắng - thứ xa xỉ phẩm gieo mầm bệnh

Từ xưa ở Nhật, gạo trắng là biểu tượng của địa vị xã hội, chỉ có những người giàu sang phú quý mới có thể sở hữu loại gạo trắng thơm ngon, còn người nghèo thì ăn gạo lứt hoặc các loại tinh bột khác như khoai lang và lúa mạch.

Gạo trắng thường được xay xát kỹ lưỡng, loại bỏ lớp cám bên ngoài và được vo kỹ, loại sạch bụi bẩn trước khi nấu. Thứ gạo trắng bóng, đẹp mắt mất nhiều công sức để tạo ra nên có giá thành rất đắt. Người Edo gọi cơm trắng mới nấu là “ginshari” – cơm bạc, coi đó là biểu tượng cho bữa ăn sang trọng.

Vào thời Minh Trị, loại gạo này được sử dụng trong quân ngũ để mang đến bữa ăn thịnh soạn cho binh lính. Với nhiều trai tráng nông thôn khi đó, sức hấp dẫn của việc nhập ngũ nằm ở chỗ họ được cấp khẩu phần 6 chén gạo trắng mỗi ngày, tương đương 15 chén cơm. Chế độ ăn của họ gồm nhiều cơm và rất ít món ăn kèm, như đa phần người Nhật khi đó.

Sự tăng trưởng kinh tế thời Minh Trị cũng khiến gạo trắng tinh chế trở nên dễ tiếp cận hơn đối với mọi tầng lớp xã hội, làm lan rộng căn bệnh Edo wazurai trên toàn quốc, khiến nó được coi là một căn bệnh đặc hữu của Nhật Bản.

Vào năm 1884, bác sĩ hải quân Takaki Kanehiro đã phát hiện ra rằng các sĩ quan cấp cao, những người ăn chế độ ăn đa dạng hơn bao gồm thịt và rau, hoặc những binh lính ăn theo chế độ gồm các sản phẩm từ sữa, thịt và bánh mì cũng không mắc bệnh. Ông nhận thấy khi chuyển chế độ chủ yếu ăn gạo trắng sang chế độ ăn đầy đủ hơn thì tình hình sức khỏe của những người mắc bệnh được cải thiện.

Sau này đến năm 1897, Christiaan Eijkman, một bác sĩ người Hà Lan làm việc tại Java, đã phát hiện ra rằng bệnh tê phù ở gà (có triệu chứng giống người) là do ăn gạo trắng và bệnh được chữa khỏi khi ăn gạo lứt cùng các thực phẩm giàu chất xơ.

Cuối cùng, căn bệnh lạ Edo wazurai lại có nguyên nhân từ chính cơm trắng. Người giàu chỉ ăn cơm trắng mà thiếu rau, thịt cùng các loại ngũ cốc khác khiến cơ thể thiếu vitamin B1 và dần suy kiệt. Còn người nghèo thường ăn gạo lứt trộn cùng với lúa mạch và các loại hạt khác nên ít khi nhiễm bệnh.

Cre: Xóm Văn Hóa

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Ferdinand Magellan: Nhà thám hiểm vòng quanh thế giới đầu tiên — chết trên bãi biển Philippines

​

Ai cũng biết Magellan là người đầu tiên đi vòng quanh Trái Đất, nhưng sự thật là ông chưa bao giờ hoàn thành nó. Tháng 4 năm 1521, do một sai lầm chiến thuật ch*t người, Magellan cùng các thủy thủ bị phục kích bởi hơn 1.500 chiến binh bản địa. Trong bộ áo giáp sắt nặng nề găm đầy tên độc, vị thuyền trưởng vĩ đại đã ngã gục và trút hơi thở cuối cùng ngay trên bãi biển Mactan, Philippines. Chuyến đi của ông mãi mãi dừng lại ở một nửa chặng đường.

Trước khi trở thành huyền thoại, Ferdinand Magellan (sinh khoảng năm 1480) chỉ là một quý tộc nghèo người Bồ Đào Nha. Tuổi trẻ của ông gắn liền với những trận chiến đẫm máu ở Ấn Độ và Ma-rốc, thậm chí ông còn bị thương và thọt chân suốt đời.

Cống hiến hết mình là vậy, nhưng Magellan lại bị Vua Bồ Đào Nha ghét bỏ và từ chối tài trợ cho kế hoạch tìm con đường biển phía Tây. Quá bất mãn, ông đã làm một việc động trời thời bấy giờ: Từ bỏ quốc tịch, sang Tây Ban Nha đầu quân cho Vua Carlos I. Chính vì xuất thân là "kẻ phản quốc" trong mắt người Bồ, nhưng lại là "người ngoài" trong mắt người Tây Ban Nha, cuộc đời Magellan luôn tràn ngập những hoài nghi và thù hận.

Ngày 20 tháng 9 năm 1519, đoàn tàu gồm Trinidad, San Antonio, Concepción, Victoria và Santiago rời Tây Ban Nha. Họ vượt Đại Tây Dương, đi dọc bờ đông Nam Mỹ rồi trú đông tại Patagonia. Tại đây, các thuyền trưởng người Tây Ban Nha không chịu nghe lệnh một gã thọt người Bồ Đào Nha. Bằng sự lạnh lùng và mưu mẹo, Magellan đã thẳng tay trấn áp, c/h/ặ/t đầu kẻ cầm đầu và bắt các thủy thủ phản loạn phải quỳ gối thề trung thành trước cây thánh giá để đổi lấy mạng sống.

Vượt qua biến cố, hạm đội tiến vào vùng biển mà Magellan đặt tên là Thái Bình Dương. Nhưng sự "bình yên" ấy lại đi kèm với cơn ác mộng đói khát kéo dài 3 tháng 20 ngày. Lương thực cạn kiệt đến mức thủy thủ phải cạo cả mùn cưa, luộc những miếng da thuộc bọc trên boong tàu để nhai, và săn chuột với giá đắt đỏ để nuôi mạng.

Đến tháng 3 năm 1521, đoàn cuối cùng cũng tới Guam rồi tiếp tục đến Philippines.

Tại Philippines, Magellan tưởng như đã chạm tay vào vinh quang khi thuyết phục được thực vương bản địa Rajah Humabon cải đạo sang Công giáo và thề trung thành với vua Tây Ban Nha. Thế nhưng, sự tự tin thái quá vào sức mạnh của súng đạn phương Tây đã đẩy ông vào lòng đất mẹ.

Khi tộc trưởng vùng Mactan là Lapu-Lapu từ chối quy phục, Magellan đã ngạo nghễ dẫn theo vỏn vẹn vài chục binh sĩ đi chinh phạt một đội quân hơn 1.500 chiến binh bản địa. Do đá ngầm và san hô ngăn cản, các chiến thuyền không thể áp sát bờ, đại bác trên tàu hoàn toàn vô dụng. Lội nước ngập đến đùi tiến vào bãi biển, các thủy thủ trong bộ giáp sắt nặng nề trở thành những tấm bia sống cho mưa tên độc và giáo tre của bộ tộc Mactan. Vị thuyền trưởng vĩ đại bị đánh gục, ngã sấp xuống vùng nước nông và vĩnh viễn nằm lại trên bãi cát, thi thể của ông cũng không bao giờ được tìm thấy.

Cái ch*t của Magellan đẩy hạm đội vào tình thế rắn mất đầu và hoảng loạn tột độ. Để bảo toàn mạng sống và vận hành số người ít ỏi còn lại, họ buộc phải đốt bỏ tàu Concepción do không đủ thủy thủ. Hai con tàu còn lại tiếp tục lang thang trên biển và cuối cùng cũng tìm được Quần đảo Gia vị (Maluku) đúng như tâm nguyện của Magellan, chất đầy khoang những bao đinh hương vô giá.

Thế nhưng, chặng đường về nhà mới thực sự là một cuộc thanh lọc tàn nhẫn. Tàu Trinidad cố gắng quay về theo đường cũ qua Thái Bình Dương nhưng bị bão đánh nát và phần lớn thủy thủ bị người Bồ Đào Nha bắt giữ. Trọng trách lịch sử lúc này dồn cả lên vai nhà hàng hải người Tây Ban Nha Juan Sebastián Elcano cùng con tàu duy nhất còn lại: tàu Victoria.

Thay vì đi lùi, Elcano quyết định đánh cược mạng sống khi chọn giải pháp đi tiếp về phía Tây, xuyên qua Ấn Độ Dương rộng lớn vốn thuộc tầm kiểm soát gắt gao của kẻ thù Bồ Đào Nha. Họ phải vừa đi vừa trốn, chống chọi với bệnh hoại huyết và những cơn đói khát rình rập mỗi ngày.

Ngày 6 tháng 9 năm 1522, sau đúng 1080 ngày đêm lênh đênh trên biển cả, tàu Victoria rách nát, mục rỗng chính thức cập cảng Sanlúcar de Barrameda, Tây Ban Nha. Trong số 270 con người hào hùng xuất phát năm xưa, chỉ còn lại đúng 18 thủy thủ sống sót bước xuống bờ.

Họ gầy gò, hốc hác, bước đi không vững như những "bộ xương biết đi" bước ra từ cõi ch*t. Nhưng họ đã làm được một điều vô tiền khoáng hậu: hoàn thành trọn vẹn một vòng Trái Đất, chứng minh cho cả nhân loại thấy hành tinh này thực sự là một khối cầu, mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn bộ lịch sử thế giới...

Cre: Dấu ấn thời đại

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Khoa học, Thuế khóa và Đại số: Thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo

Khoảng thế kỷ 8 đến thế kỷ 13, những chiến binh Ả Rập bất ngờ cất gươm giáo, tháo mũ sắt, khoác áo choàng lụa và ngồi xuống ngắm sao, dịch sách Aristotle, nhẩm tính đại số. Giống như một đế quốc đang hừng hực bành trướng bỗng nhiên thấy mệt, quyết định dừng thánh chiến để... đi học.

Tất nhiên đấy là cách nói trong sách cho trẻ thơ rồi. Nhưng cũng không sai lắm. Đế quốc Abbasid vừa bảo trợ toán học, y học và triết học, vừa đánh nhau với Byzantine, dẹp nổi loạn và thỉnh thoảng tự lao vào nội chiến. Nhưng giữa những rắc rối hầm bà lằng ấy, nghiên cứu học thuật vẫn diễn ra liên tục và luôn có một vị trí ở đằng trước.

Bởi vì đối với vương triều Abbasid tại Baghdad mới trỗi dậy lúc bấy giờ, khoa học là thứ vũ khí quan trọng nhất để giữ cho một đế quốc khổng lồ không tự sụp đổ dưới sức nặng của chính nó.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của một hoàng đế nhà Abbasid vào thế kỷ 9. Bạn vừa lật đổ triều đại trước, nắm trong tay một lãnh thổ trải dài từ Bắc Phi đến tận rìa Ấn Độ, ôm trọn những vùng đất từng thuộc về đế quốc La Mã và Ba Tư. Làm sao để cai trị một khối dân cư đa ngôn ngữ, đa tôn giáo khổng lồ như vậy? Bạn không thể cứ cưỡi ngựa đi thu thuế hay dùng kiếm chém những kẻ không chịu nộp lúa. Bạn cần bộ máy quan liêu. Rất nhiều quan liêu.

Đó là lúc Phong trào Dịch thuật trứ danh ra đời. Baghdad đổ núi vàng ra để mời các học giả dịch sách y học, triết học, toán học từ tiếng Hy Lạp, Ba Tư, và Phạn ngữ sang tiếng Ả Rập không phải vì họ đột nhiên yêu văn thơ ngoại quốc. Đế quốc lúc bấy giờ giống như một tập đoàn mafia vừa thực hiện một loạt thương vụ thâu tóm bạo lực và chuyển đổi sang kinh doanh trong sạch nghiêm túc, ban giám đốc khẩn thiết cần tìm hiểu xem hệ thống kế toán, tư pháp và y tế của những kẻ tiền nhiệm hoạt động ra sao. Họ dịch sách để học cách quản trị. Tiện thể ồ ạt tuyển dụng nhân viên biết chữ chứ không chỉ biết chém.

Những học giả trong Ngôi nhà Trí tuệ - Bayt al-Hikma - thực chất là những công chức cấp cao bậc nhất. Họ được trả lương bằng vàng để giữ cho hệ thống cai trị vận hành trơn tru: kỹ sư thiết kế kênh đào để tối ưu sản lượng nông nghiệp, bác sĩ để giữ cho quân đội khỏe mạnh, và các nhà toán học để đảm bảo dòng tiền thuế không bao giờ ngừng chảy về kinh đô.

Dịch thuật mới là bước đầu. Các học giả đọc, sửa, phản biện và phát triển những gì nhận được. Lấy toán học làm ví dụ. Nhà toán học vĩ đại Al-Khwarizmi không phát minh ra Đại số (Algebra) để làm khổ đời học sinh ngàn năm sau. Nhưng mục đích ban đầu của cuốn sách là một cẩm nang giải quyết các bài toán rất thực tế: làm sao để chia tài sản thừa kế theo đúng luật Hồi giáo (vốn cực kỳ phức tạp), đo đạc lại ruộng đất sau những trận lũ, và tính toán thuế khóa trên những vùng lãnh thổ rộng lớn. Đại số, vào thời điểm đó, chính là phần mềm kế toán của nhà nước.

Thiên văn học cũng vậy. Tại sao thế giới Hồi giáo lại xây dựng những đài thiên văn hoành tráng nhất thế giới trung cổ? Không chỉ để thỏa mãn trí tò mò. Tôn giáo của họ đòi hỏi người dân phải cầu nguyện năm lần mỗi ngày vào những thời điểm chính xác dựa trên vị trí mặt trời, và phải quay mặt về đúng hướng thánh địa Mecca (gọi là Qibla). Khi đế quốc của bạn trải dài hàng ngàn dặm, việc xác định chính xác hướng Mecca từ một tỉnh lẻ ở Trung Á hay Bắc Phi là một bài toán lượng giác cầu và hình học không gian cực kỳ phức tạp. Thiên văn học, do đó, vừa là hệ thống định vị GPS của đế quốc, vừa là công cụ duy trì tính chính danh tôn giáo.

Một điều kiện vật chất ít lãng mạn nhưng cực kỳ quan trọng là giấy. Kỹ thuật làm giấy đi từ Trung Quốc qua Trung Á và đến cuối thế kỷ 8 đã có mặt tại Baghdad. Giấy rẻ và thuận tiện hơn nhiều vật liệu viết cũ, khiến việc sao chép sách, lưu trữ văn bản và trao đổi tri thức mở rộng mạnh. Một nền văn minh tri thức không chỉ cần thiên tài; nó còn cần thứ để thiên tài viết lên, người đủ kiên nhẫn chép lại và khách hàng chịu bỏ tiền mua.

Vậy nên, không có chuyện những người Ả Rập thế kỷ 8-9 tạm gác lại việc bành trướng để làm khoa học. Khoa học chính là cách bành trướng mới của họ. Khi gươm giáo đã vẽ xong đường biên giới thô ráp trên bản đồ, thì giấy, mực và đại số mới là những thứ giúp họ thực sự cắm rễ và nuốt trọn những vùng đất ấy.

Thường thì, sức mạnh của một đế quốc không nằm ở độ sắc của lưỡi gươm, mà nằm ở tốc độ giải phương trình của viên quan thu thuế.

Tác giả: Sử Đông Sử Tây

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago

Đại ma pháp sư Lưu Tú: vị hoàng đế thất bại trong việc trở thành… Người nổi tiếng

Trong giới làm sử, có một quy luật bất thành văn: vị vua nào càng nhiều "phốt" thì độ nhận diện càng cao. Người ta luôn nhớ đến Lưu Bang vì lối đánh lật bàn và thói lưu manh lúc bôn tẩu giang hồ. Người ta không thể quên Đường Thái Tông Lý Thế Dân vì màn huynh đệ tương tàn đẫm máu ở Huyền Vũ Môn, ép cha đẻ nhường ngôi. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương thì đi từ cái bát mẻ của gã ăn mày đến ngai vàng, rồi tự tay ký giấy chém đầu hàng trăm công thần.

Nhưng nếu có một bảng xếp hạng đánh giá chất lượng hoàng đế thì sao? Lưu Tú hẳn là sẽ được 6 sao (trên 5)

Nhìn vào vạch xuất phát, Lưu Tú diễn một kịch bản lội ngược dòng kinh điển. Dù mang tiếng là cháu đời thứ 9 của Lưu Bang, đến thời của ông, dòng máu hoàng gia đã loãng đến mức gia đình ông thực chất chỉ là những người nông dân cày ruộng, đọc sách. Khi thiên hạ đại loạn cuối thời Vương Mãng, ông theo anh trai khởi binh, nghèo đến mức không sắm nổi một con ngựa mà phải cưỡi trâu ra trận.

Kịch tính lẽ ra phải bùng nổ ở trận Côn Dương. Khi Vương Mãng phái 42 vạn đại quân bóp nghẹt tòa thành chỉ có hơn một vạn người phòng thủ, Lưu Tú đã đích thân dẫn 3.000 quân cảm tử lao thẳng vào đội hình địch. Chênh lệch gấp 40 lần, nhưng ông chém chết chủ soái quân địch và đánh tan hoàn toàn chủ lực nhà Tân. Đánh xong một trận huyền thoại như vậy, người bình thường sẽ bắt đầu ngông cuồng, đòi quyền lực. Lưu Tú thì không. Ông lẳng lặng thu dọn tàn cuộc, không kiêu ngạo cũng chẳng hống hách.

Khi anh trai Lưu Diễn bị Canh Thủy Đế Lưu Huyền giết vì nghi kỵ, Lưu Tú lập tức trở về nhận tội, không công khai để tang anh, vẫn ăn nói và sinh hoạt như thường. Sử sách còn đặc biệt ghi rằng ông không hề tự khoe công trận Côn Dương. Đây là khả năng nuốt đau đớn vào trong để sống sót — một phẩm chất rất đáng sợ ở người làm chính trị, nhưng lên màn ảnh thì không ồn ào bằng rút kiếm giữa triều đình.

Sau đó Lưu Tú được phái lên Hà Bắc. Tại đây, ông dần xây dựng lực lượng riêng, thu phục hào trưởng và tướng lĩnh, rồi xưng đế năm 25. Phải mất hơn một thập niên, ông mới lần lượt đánh bại các chính quyền cát cứ và hoàn tất việc thống nhất phần lớn lãnh thổ Trung Hoa. Nhà Hán được phục hồi, chuyển về Lạc Dương; sử gọi là Đông Hán.

Tiếp đến đoạn hậu chiến, Lưu Tú cho vẽ chân dung 28 công thần tại Vân Đài để tưởng niệm họ. Công thần được cấp đất đai, bổng lộc và an hưởng tuổi già. Quân và thần hồ nghi, không thanh trừng, mọi người vui vẻ ăn uống rồi ai về nhà lấy, hôm sau đi làm tiếp. Hết drama hậu chiến luôn.

Về đời tư, Lưu Tú cưới được người con gái mình theo đuổi từ thời niên thiếu, lúc còn chân đất là Âm Lệ Hoa. Dù sau này buộc phải tham gia vào một cuộc liên hôn chính trị với Quách Thánh Thông, ông vẫn xử lý êm thấm; dù có phế Hậu sau này, ông vẫn đối xử tử tế với gia tộc họ Quách, tuyệt đối không dồn ai vào cửa tử. Và cuối cùng vẫn chung thuỷ với một người vợ thanh mai trúc mã. Đáng lẽ đoạn này có thể triển khai kiểu tiểu thuyết tình ái mộng mơ, nhưng tất nhiên nó không hợp với vai của một vị hoàng đế cho lắm.

Về quản lý quốc gia, toàn bộ vương triều dưới tay Lưu Tú vận hành êm ái đến mức người ta quên mất rằng nó đang chạy. Ông chọn cách giảm thuế, cắt giảm biên chế quan lại dư thừa, hạn chế phát động chiến tranh, phục dịch cho sức dân nghỉ ngơi. Hệ quả là chỉ trong mười mấy năm ngắn ngủi, thiên hạ khôi phục sự ổn định, tạo ra thời kỳ "Quang Vũ Trung Hưng".

Đánh giá như thế nào về Lưu Tú? Ông thắng một trận lớn, biết cúi đầu đúng lúc, dựng lại một triều đại, không giết công thần, cưới crush từ nhỏ, rồi dành nhiều năm thu dọn hậu quả chiến tranh.

Lịch sử thường viết về những vị vua khiến thiên hạ kinh ngạc. Người sống trong lịch sử lại mong gặp một vị vua đừng bắt thiên hạ phải kinh ngạc quá nhiều.

Theo tiêu chuẩn ấy, sự “mờ nhạt” của Lưu Tú có lẽ không phải thất bại. Đó là lời khen khá sang trọng.

u/AnotherPersonality8 — 2 months ago