u/AnotherPersonality8

Số phận của phụ nữ trong sự kiện Tĩnh Khang bi thảm đến mức nào?

Số phận của phụ nữ trong sự kiện Tĩnh Khang bi thảm đến mức nào?

​

1. Nạn Tĩnh Khang, trước hết là nạn của những người phụ nữ.

Trong chính sử của nhà Tống không ghi rõ chi tiết về số phận đau lòng của những người phụ nữ trong "Nỗi nhục Tĩnh Khang". Chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong các bộ dã sử như “Nam Chinh Lục Hối”, “Khai Phong Phủ Trạng” và “Tĩnh Khang Bách Sử Tiên Chứng”.

Theo "Nam Chinh Lục Hối ", ngày 10 tháng chạp năm Tĩnh Khang thứ nhất, vua Tống sai sứ là Ngô Khai và Mạc Đạo sang báo với quân Kim, đồng ý dâng:

- Vật phẩm gồm mũ miện, xe cộ, bảo vật các loại.

- Người thì gồm: thân vương, quan đại thần, con gái hoàng tộc mỗi loại 2 người; dân nữ và nữ nhạc mỗi loại 500 người.

Đây là đợt phụ nữ đầu tiên bị đưa sang làm lễ vật.

Sau đó, ngày 22 tháng Giêng, năm Tĩnh Khang thứ 2, nhà Tống tiếp tục ký thỏa thuận, dâng thêm: 2 Đế Cơ (công chúa), 4 con gái dòng tông thất và 4 con gái dòng thân tộc xa, 2.500 cung nữ, và 1.500 nữ nhạc.

Thỏa thuận này còn quy định: "Khao quân một triệu thỏi vàng, năm triệu thỏi bạc, phải nộp đủ trong vòng mười ngày.

Nếu không đủ số lượng:

- Mỗi một Đế cơ, Vương phi được tính bằng một ngàn thỏi vàng;

- Mỗi một Tông cơ tính bằng năm trăm thỏi vàng;

- Mỗi một Tộc cơ tính bằng hai trăm thỏi vàng;

- Mỗi một Tông phụ tính bằng năm trăm thỏi bạc;

- Mỗi một Tộc phụ tính bằng hai trăm thỏi bạc;

- Mỗi một nữ tử quý tộc tính bằng một trăm thỏi bạc.

Chú thích:

Đế cơ, Vương phi, Tông cơ, Tộc cơ: công chúa, vợ của vua/ hoàng tử.

Cung nữ, Thái nữ: người hầu, thị nữ thuộc cung đình

Tông phụ, Tộc phụ: Vợ của họ hàng hoàng tộc.

Quý thích: Con gái/quý nữ nhà quan.

Quan dân nữ: Phụ nữ nhà quan nhỏ và dân thường.

2. Từ ngày 28 tháng Giêng, hoàng đế và triều đình nhà Tống bắt đầu thực thi thỏa thuận

Những người phụ nữ đầu tiên bị đưa vào trại quân Kim là gia quyến và ca kỹ của Thái Kinh, Đồng Quán, Vương Phủ, mỗi nhà hai mươi tư người. Trong đó, Phúc Kim Đế cơ cũng nằm trong danh sách bị gửi đi, bị đưa đến trại của quân Kim.

Sử chép, Phúc Kim Đế cơ khi gặp Oát Ly Bất (tức thống soái quân Kim Hoàn Nhan Tông Vọng, con trai thứ hai của Kim Thái Tổ, còn được gọi là Nhị Hoàng tử) đã "run rẩy mặt không còn hạt máu", Oát Ly Bất ra lệnh cho tỳ nữ Lý thị chuốc say Phúc Kim Đế cơ, rồi thừa cơ cưỡng hiếp nàng. Phúc Kim Đế cơ là công chúa đầu tiên của triều Tống bị người Kim chà đạp trong Nạn Tĩnh Khang.

Do không gom đủ số lượng vàng bạc theo yêu cầu của quân Kim trong thời hạn 10 ngày, nên vua tôi nhà Tống đã dựa vào "điều khoản bổ sung" để lấy phụ nữ gán nợ.

Quan viên phủ Khai Phong ngoài áp giải phụ nữ trong cung đình, tông thất đến trại Kim, còn đi lùng bắt dân nữ trong kinh thành để cho đủ số. Những người phụ nữ bị bắt ép này "đều đầu bù tóc rối, không ăn uống, giả dạng ốm yếu với hy vọng được tha", nhưng Khai Phong phủ doãn Từ Bỉnh Triết vì muốn lập công, đã "tự bỏ tiền mua trâm cài áo, trang điểm lộng lẫy" cho năm ngàn phụ nữ từ cung tần đến kỹ nữ rồi đưa ra khỏi kinh thành, giao cho quân Kim.

Quan viên chấp sự trong "Khai Phong Phủ Trạng" đã thống kê một bản danh sách chi tiết, lưu lại cho chúng ta chứng cứ của trang sử nhục nhã này:

- Chọn nạp phi tần 83 người, Vương phi 24 người, Đế cơ 22 người, mỗi người tính 1.000 thỏi vàng, tổng cộng 134.000 thỏi vàng, trong đó 5 người Đế phi được tính gấp đôi.

- Tần ngự 98 người, Vương thiếp 28 người, Tông cơ 52 người, Ngự nữ 78 người, Tông cơ chi gần 195 người, mỗi người tính 500 thỏi vàng, tổng cộng 225.500 thỏi vàng.

- Tộc cơ 1.241 người, mỗi người tính 200 thỏi vàng, tổng cộng 248.200 thỏi vàng.

- Cung nữ 479 người, Thái nữ 604 người, Tông phụ 2.091 người, mỗi người tính 500 thỏi bạc, tổng cộng 1.587.000 thỏi bạc.

- Tộc phụ 2.007 người, ca nữ 1.314 người, mỗi người tính 200 thỏi bạc, tổng cộng 664.200 thỏi bạc.

- Quý thích, quan dân nữ 3.319 người, mỗi người tính 100 thỏi bạc, tổng cộng 331.900 thỏi bạc.

Tổng cộng tính bằng 607.700 thỏi vàng, 2.583.100 thỏi bạc.

Chỉ riêng một lần này, số lượng phụ nữ các loại bị dùng để gán nợ lên tới 11.635 người.

Kể từ khoảnh khắc bị đưa vào trại quân Kim, cơn ác mộng của những người phụ nữ này đã bắt đầu.

Tướng lĩnh quân Kim chia chác những chiến lợi phẩm đặc biệt này như chia gia súc. Trong số những phụ nữ đầu tiên bị áp giải đến trại Kim, Niêm Hãn, Oát Ly Bất tự lấy vài chục người, chư tướng từ chức Mưu Khắc trở lên mỗi người được ban vài người, dưới Mưu Khắc thì ban một hai người, sau đó cùng với dòng người cống nữ ùn ùn kéo tới, phạm vi "ban ơn" dần lan xuống tầng lớp dưới. Họ bị ép thay y phục, múa hát chuốc rượu cho tướng lĩnh quân Kim, phục vụ việc chà đạp và nhục nhã, chỉ cần phản kháng một chút là bị giết chết.

Đêm ngày mồng 5, Niêm Hãn ( Hoàn Nhan Tông Hàn) mở tiệc chiêu đãi tướng lĩnh dưới quyền, ra lệnh cho cung tần thay trang phục hầu rượu. Có ba người là Trịnh thị, Từ thị, Lữ thị kháng mệnh không theo, bị chém chết tại chỗ. Một người khác vì không chịu nổi nhục nhã đã dùng mũi tên đâm cổ họng t.ự v.ẫn. Lại có Trương thị, Cao thị...vì không tuân ý nhị thái tử Hoàn Nhan Tông Vọng ( Oát Ly Bất), đã bị cọc sắt xuyên qua người, treo trước trại, máu chảy ba ngày mới chết.

Ngày mồng 7, Vương phi và Đế cơ nhập trại, Hoàn Nhan Tông Vọng liền chỉ vào những nạn nhân đang muốn chết mà không được ấy để cảnh cáo, khiến họ mặt không còn chút máu, sống không bằng chết.

Để thỏa mãn dục vọng của tướng lĩnh quân Kim, Hoàn Nhan Tông Vọng thậm chí còn hạ lệnh: "Kẻ nào đang mang thai thì nghe y quan cho uống thuốc phá thai". Những phụ nữ đã thuộc về tướng sĩ quân Kim thì phải thay đổi cách trang điểm theo Đại Kim.

Một số phụ nữ không chịu nổi lăng nhục đã lần lượt t.ự v.ẫn, như Tín Vương phi tự vẫn tại trại Thanh Thành, Vận Vương cơ Vương thị tự vẫn tại chùa Lưu Gia. Đến mức "phụ nữ trong các trại chết nối tiếp nhau", trong đó bao gồm cả các công chúa mười sáu tuổi như Nhân Phúc Đế cơ, Hiền Phúc Đế cơ và Bảo Phúc Đế cơ.

Hoàng hậu và phi tần của Tống Huy Tông có năm người, trong đó mẹ của Triệu Cấu là Vi thị bị đưa vào Hoán Y Viện - tức kỹ viện của hoàng tộc nước Kim.

Ba mươi mốt người là phi tần, một trăm lẻ tám người có phong hiệu khác, cùng sáu mươi bảy người có danh hiệu Quốc phu nhân, Quận phu nhân, phu nhân, hai mươi chín cháu gái hoàng đế, tất cả đều bị phân phối như gia súc.

Còn Tống Khâm Tông có một hậu, một phi, Chu hoàng hậu nhảy xuống nước tự vẫn, Chu Thận phi theo đến thành Ngũ Quốc.

Các tỳ thiếp có phong hiệu khác gồm mười người, nô tỳ hai mươi bảy người, vợ các hoàng tử ba mươi tư người, cùng tông thất họ Triệu, hai mươi hai người con gái của anh em Huy Tông, cũng chịu chung số phận.

Vợ con của hai đời hoàng đế đều có kết cục như vậy, có thể tưởng tượng được số phận của những người phụ nữ khác. Hơn mười ngàn phụ nữ này hầu hết đều trở thành quân kỹ của quân Kim, hơn phân nửa đã bị ngược đãi đến chết trên đường bị áp giải về phương Bắc.

Lý do cho việc chính sử không ghi chi tiết những điều này xuất phát từ bản chất của từng loại sử liệu:

- Sử chính thống được triều đình kế tiếp biên soạn. Mục đích là ghi lại công lao và sự nghiệp của triều đại trước. Việc ghi chép một cách chi tiết và trần trụi về cảnh hoàng tộc bị làm nhục bị coi là một điều tối kỵ mà các sử quan thời đó tìm cách lược bỏ hoặc nói giảm nói tránh.

- Các bộ dã sử, ví như "Tĩnh Khang Bách Sử Tiên Chứng” ( do Tần Thừa Dụ thời Nam Tống sưu tầm) tập hợp 7 bộ ký sự của cả người Tống lẫn người Kim. Trong đó “Khai Phong Phủ Trạng” ghi chép vô cùng tỉ mỉ về danh sách và "mức giá" quy đổi phụ nữ hoàng tộc, quan lại ra vàng bạc để trừ nợ bồi thường chiến phí.

- Vì đây là những lời kể, ghi chép "theo ngôi thứ nhất" của những người từng trải qua biến cố, nên chúng phản ánh một cách chân thực, sinh động và đầy đủ hơn về những góc khuất của thảm kịch, đặc biệt là số phận của những người phụ nữ, những đối tượng ít được đề cập trong chính sử.

- Tuy số chi tiết có thể bị phóng đại bởi tư tưởng căm thù dân tộc thời Nam Tống, nhưng bản chất sự thật vẫn rất tàn khốc, việc vương triều nhà Tống dùng phụ nữ hoàng tộc và dân nữ để thế nợ chiến phí là sự thật lịch sử không thể chối cãi.

Cre: Xóm văn hoá

u/AnotherPersonality8 — 1 day ago

Nhân phẩm của bên thua cuộc

Hậu của một thời đại

Một gã nông dân cày thuê cuốc mướn ở bán đảo Italy, nhập ngũ, khoác lên người tấm áo xích lưới, vác khiên đi về phía Đông. Và rồi gã đứng ở Athens. Dưới chân gã là thành phố của Socrates, của những triết gia vĩ đại và nền dân chủ từng huy hoàng nhất thế giới cổ đại. Nhưng gã chẳng quan tâm đến triết học hay kịch nghệ. Điều duy nhất gã thấy là ở đây, mọi thứ đều rẻ mạt đến kinh ngạc, từ rượu vang cho đến con người.

Thi hào Horace từng nói "Hy Lạp bị chinh phục đã bắt giữ kẻ chinh phục hoang dã của nó" - một bản hùng ca về sự giao thoa văn hóa. Chuyện đó không sai. Người La Mã đúng là đã phải học rất nhiều về nên văn hoá đồ sộ của Hy Lạp, nhưng thứ họ trả lại là gì? Sự sụp đổ của nền kinh tế.

Vào khoảng thế kỷ thứ 2 và thứ 1 TCN, đặc biệt là sau khi La Mã san phẳng trung tâm thương mại Corinth (146 TCN) và tướng Sulla tàn sát Athens (86 TCN), nền kinh tế của các thành bang Hy Lạp về cơ bản là nát bét. Những cuộc nội chiến liên miên giữa các vương quốc thời kỳ Hellenistic, cộng thêm các khoản bồi thường chiến phí khổng lồ mà La Mã áp đặt, đã rút cạn kiệt lượng bạc trong khu vực. Ngược lại, Cộng hòa La Mã lúc đó đang bơi trong tiền và nô lệ cướp được từ khắp Địa Trung Hải.

Một binh sĩ La Mã ở quê nhà có thể chỉ là tầng lớp bình dân hạ lưu, chật vật sống bằng đồng lương quân đội. Nhưng khi gã bước vào một Athens vừa vỡ nợ, lạm phát và bị tước đoạt mọi tư liệu sản xuất, gã bỗng chốc trở thành một đại gia. Đồng bạc denarius trong túi gã được bảo chứng bởi một thứ quyền lực tuyệt đối: kiếm của các quân đoàn. Ở chiều ngược lại, khi một nền kinh tế sụp đổ, nhân phẩm luôn là thứ bị định giá lại đầu tiên, và thường là giảm giá sâu nhất.

Sự vĩ đại của Athens biến mất, nhường chỗ cho một nền kinh tế dịch vụ phục vụ chính kẻ thù cũ. Thành phố từng đập tan hạm đội Ba Tư và thống trị biển Aegean giờ đây trở thành một "phố đèn đỏ" và khu du lịch giá rẻ cho giới tinh hoa La Mã. Hậu duệ của những chiến binh Sparta và triết gia Athens nếu không bị bán làm nô lệ thì cũng trở thành gia sư, nghệ sĩ mua vui, hoặc cung cấp các dịch vụ thể xác cho những kẻ mang quốc tịch La Mã.

Gã binh sĩ La Mã kia có lẽ chẳng hiểu gì về sự sụp đổ của một nền văn minh vĩ đại. Gã chỉ đơn giản chép miệng nhận ra một chân lý: làm người chiến thắng thực sự rất sướng, nhất là khi bạn cầm ngoại tệ mạnh đi tiêu ở một quốc gia vừa phá sản.

Cre: Sử ta và họ - chuyện xưa kể lại

u/AnotherPersonality8 — 6 days ago

Mối quan hệ cộng sinh giữa cảnh sát và tội phạm tại một số nước trên thế giới

Tồn tại một hiện tượng nhạy cảm mà truyền thông chính thống hầu như không bao giờ nhắc tới nhưng đã được ghi nhận lặp đi lặp lại ở nhiều hệ thống cảnh sát trên thế giới trong thực tế quản trị an ninh: cảnh sát và tội phạm sống cộng sinh với nhau, cùng hưởng lợi và cùng vận hành theo một ranh giới ngoài luật pháp, bất thành văn nhưng ngầm hiểu.

Cảnh sát nắm rất rõ các tổ chức tội phạm và hoạt động phạm pháp trên địa bàn, ngày thường thu tiền bảo kê, khi cần thì quay ra bắt giữ rất nhanh, khiến người dân tưởng rằng đó là biểu hiện của năng lực nghiệp vụ xuất sắc trong khi thực chất chỉ là hệ quả của việc đã nắm thông tin từ lâu nhờ mối quan hệ cộng sinh này.

Trong khoa học xã hội, hiện tượng này không bị coi là thuyết âm mưu mà được định danh bằng các thuật ngữ chuyên môn rõ ràng như Mặt tối của Trật tự Xã hội, Mối quan hệ Cộng sinh, Trật tự Bất hợp pháp, hay Sự bảo kê do Nhà nước tài trợ.

Cơ chế cộng sinh này vận hành theo ba quy luật chính.

- Thứ nhất là ranh giới bất thành văn, khi cảnh sát ngầm ra điều kiện cho tội phạm: "Các anh được làm ăn (cờ bạc, mại dâm, bảo kê, ma túy nhỏ lẻ...), nhưng không được gây ra án mạng, không xả súng, không cướp giật trên đường phố làm ảnh hưởng đến chỉ số an ninh công cộng."

- Thứ hai là cơ chế mà có thể gọi là "tài khoản tiết kiệm" phá án: cảnh sát nắm rõ từng đầu sỏ, từng ổ nhóm nhưng không bắt ngay mà nuôi dưỡng, đến khi có đợt thi đua hoặc chịu áp lực từ cấp trên và dư luận thì chỉ cần yêu cầu trùm tội phạm giao nộp vài đàn em thế thân để lấy thành tích phá án nhanh.

- Thứ ba là cơ chế đổi nguồn lực lấy thông tin: tội phạm đóng vai trò tai mắt giúp cảnh sát nắm tình hình địa bàn hoặc triệt hạ các băng nhóm đối thủ vượt ranh giới, trong khi nguồn tiền bảo kê chảy ngược lại để củng cố bộ máy hoặc túi tham cá nhân.

Báo chí chính thống ít khi đề cập đến hiện tượng này vì hai lý do:

- Một là tính chất nhạy cảm chính trị: thừa nhận sự tồn tại của cơ chế cộng sinh đồng nghĩa với thừa nhận bộ máy kiểm soát xã hội của nhà nước đã tha hóa hoặc phải chia sẻ quyền lực với tội phạm.

- Hai là khó khăn về bằng chứng pháp lý: các thỏa thuận ngầm này không có văn bản, thanh toán bằng tiền mặt hoặc tài sản ẩn danh, nên rất khó để báo chí điều tra và quy kết trách nhiệm, trừ khi có đại án tham nhũng bị phanh phui.

  1. Những nghiên cứu học thuật về hiện tượng cộng sinh

Nhà xã hội học Nga Vadim Volkov, trong công trình "Violent Entrepreneurs: The Use of Force in the Making of Russian Capitalism", đã nghiên cứu nước Nga và Đông Âu những năm 1990, chỉ ra ranh giới giữa cảnh sát, cơ quan an ninh và các thế lực xã hội đen bị xóa mờ khi nhiều nhóm cùng cạnh tranh và hợp tác để bán dịch vụ bảo kê cho doanh nghiệp trong bối cảnh cải cách thị trường tự do đầu thập niên 1990.

Nhà khoa học chính trị Richard Snyder, giáo sư tại Đại học Brown, cùng Angelica Duran-Martinez, khi đó đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Brown và nay là phó giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Massachusetts Lowell, đã nghiên cứu sâu về tội phạm ma túy tại Mexico và Colombia và phát triển lý thuyết về "sự bảo kê do nhà nước tài trợ" (state-sponsored protection rackets).

Nghiên cứu của hai tác giả cho thấy khi cảnh sát hoặc chính quyền và các băng đảng ma túy đạt được thỏa thuận ngầm ổn định, bạo lực đường phố lại giảm xuống, trong khi các chiến dịch quét sạch tội phạm làm vỡ thỏa thuận ngầm này thường khiến các băng đảng chém giết lẫn nhau để tranh giành lãnh địa, khiến xã hội bất ổn hơn.

Nghiên cứu sau đó của Guillermo Trejo và Sandra Ley, công bố năm 2018, đã kiểm chứng trực tiếp cơ chế này tại Mexico: khi các đảng đối lập giành ghế thống đốc bang và thay thế các quan chức của viện công tố cùng cảnh sát tư pháp, tức chính những cơ quan đã dựng nên mạng lưới bảo kê ngầm cho tội phạm dưới thời đảng cầm quyền cũ, các băng đảng mất chỗ dựa liền tự lập dân quân riêng để tự vệ rồi dùng chính lực lượng đó thôn tính lãnh địa đối thủ, kéo theo làn sóng giết chóc giữa các băng đảng từ giữa những năm 1990 đến năm 2006.

Lịch sử nước Mỹ cũng có một trường hợp kinh điển của tội phạm học nằm ngoài phạm vi Nga và Mexico: thời kỳ Cấm rượu ở Chicago dưới trùm tội phạm Al Capone.

Capone chi hối lộ đều đặn cho cảnh sát và quan chức thành phố, với quy mô được nhiều sử liệu phổ biến mô tả là lan rộng trong bộ máy cảnh sát Chicago dù không có con số tỷ lệ chính xác được xác nhận rộng rãi, đổi lại cảnh sát làm ngơ trước các quán rượu lậu, báo trước các cuộc bố ráp và để tang vật biến mất.

Đội đặc vụ liên bang do Eliot Ness đứng đầu, thuộc Cục Cấm rượu (Bureau of Prohibition), khó bị mua chuộc hơn cảnh sát địa phương, nhưng cuối cùng Capone bị hạ gục không phải vì tội buôn lậu rượu hay bảo kê mà vì tội trốn thuế, chủ yếu nhờ điều tra của Cục Thuế vụ liên bang.

Mô hình Yakuza tại Nhật Bản là một trong những ví dụ được nhắc đến nhiều nhất về sự cộng sinh công khai giữa cảnh sát và tội phạm có tổ chức.

Trong nhiều thập kỷ, nhất là trước những năm 1990, Yakuza được một bộ phận xã hội và cả một số cơ quan công quyền Nhật Bản xem như một "tai họa tất yếu", vì các băng nhóm này hoạt động có tổ chức, ít gây bạo lực bột phát và được cho là giúp kìm hãm tội phạm đường phố tự phát.

Yakuza không phải tổ chức bất hợp pháp theo luật Nhật Bản, trụ sở các băng nhóm thường đặt công khai và cảnh sát biết rõ vị trí của chúng mà ít khi hành động. Việc trùm băng nhóm chủ động giao nộp thành viên gây án cho cảnh sát để giữ hòa khí từng được nhắc tới trong một số vụ việc cụ thể, nhưng đây không phải một quy trình chính thức hay phổ quát của mọi băng nhóm Yakuza.

  1. Trinh thám trên phim ảnh và điều tra ngoài thực địa

Người dân thường tin rằng cảnh sát phá án theo mô hình trinh thám kiểu Sherlock Holmes hay Conan: có vụ án, thu thập dấu vết tại hiện trường, phân tích suy luận, rồi mới tìm ra thủ phạm.

Nhưng trong tội phạm học thực nghiệm, quy trình điều tra thực tế ở đa số các quốc gia lại đi theo chiều ngược lại: khoanh vùng đối tượng từ kho thông tin ngầm, bắt giữ hoặc mời làm việc, khai thác khẩu cung để củng cố cách thức gây án, rồi mới quy ngược chứng cứ hiện trường.

Với các loại tội phạm có tổ chức, ma túy, băng nhóm hay những vụ việc xảy ra trong cộng đồng khép kín, nhiều nghiên cứu về phương pháp điều tra cảnh sát cho thấy vai trò của tình báo đường phố, tức mạng lưới tin báo và cơ sở ngầm, thường quan trọng không kém, thậm chí hơn cả kính lúp hay xét nghiệm DNA.

Khi một vụ trộm hay đâm chém xảy ra, một trong những việc đầu tiên cảnh sát địa phương làm là kích hoạt mạng lưới tai mắt sẵn có, hỏi thẳng các đầu sỏ và cơ sở ngầm:

- "Gần đây đứa nào đang nợ nần?",

- "Đứa nào vừa đổi đời, xài tiền lạ?",

- "Băng nhóm nào mới mò sang địa bàn này?"

Trong nghiệp vụ cảnh sát ở một số nơi, cách làm này được gọi nôm na là "dựng đối tượng" qua mạng lưới cơ sở, dù đây không phải một thuật ngữ tội phạm học chuẩn hóa quốc tế mà giới nghiên cứu thường gọi bằng các khái niệm như mạng lưới tin báo hay điều tra dựa trên nguồn tin tình báo.

Với những loại án này, cảnh sát nhiều khi đã khoanh vùng được khả năng ai là kẻ thủ ác thông qua các kênh rà soát ngầm trước khi tiến hành bắt giữ, dù không phải mọi loại án hình sự đều đi theo đúng quy trình đó.

Sau khi đã bắt hoặc triệu tập được nghi phạm nhờ thông tin ngầm, bước tiếp theo không phải là chứng minh bằng suy luận như trên phim mà là kỹ năng hỏi cung.

- Trên phim ảnh, cảnh sát tìm ra dấu vết vật lý để suy luận ngược lại hành vi và động cơ của thủ phạm.

- Trong thực tế điều tra ở nhiều vụ án loại này, cảnh sát đã biết thủ phạm từng ở đâu qua tin báo hoặc camera an ninh, rồi dùng kỹ thuật nghiệp vụ để ép đối tượng tự nhận và tự vẽ lại cách thức gây án.

Lời khai có vai trò quan trọng trên thực địa, nhưng giá trị pháp lý của nó phụ thuộc vào hệ thống tố tụng, cách thu thập, sự có mặt của luật sư và các chứng cứ độc lập kiểm chứng, chứ không có quy tắc phổ quát rằng loại chứng cứ nào luôn cao hơn loại nào. Khi đã bắt đúng người, cảnh sát chỉ cần dùng những thông tin đã biết từ trước để đánh gục tâm lý nghi phạm, khiến đối tượng tin rằng cảnh sát đã biết hết nên có giấu giếm cũng vô ích.

Nhận thức phổ biến của công chúng về năng lực suy luận thần thánh của cảnh sát bắt nguồn từ hai nguyên nhân;

- Một là chiến lược truyền thông và tâm lý chiến của chính quyền: bộ máy an ninh cần xây dựng hình ảnh lực lượng tinh nhuệ và công minh để răn đe tội phạm tiềm năng và tạo cảm giác an tâm cho người dân, trong khi việc thừa nhận phá án nhờ tai mắt ngầm hay tra hỏi dựa trên tin báo sẽ làm giảm tính chính danh của pháp luật.

- Hai là thiên kiến xác nhận từ truyền thông: các báo cáo báo chí thường viết theo mô-típ ca ngợi biện pháp nghiệp vụ sắc bén và tinh thần đấu tranh không mệt mỏi, trong khi cụm từ "biện pháp nghiệp vụ" chính là chiếc ô từ vựng rất rộng bao hàm cả mạng lưới cơ sở ngầm lẫn các thỏa thuận tin tức.

Nói ngắn gọn, người dân tin cảnh sát phá án như một nhà toán học giải phương trình từ các dữ kiện, trong khi thực tế cảnh sát phá án giống một người quản lý địa bàn tìm đồ bị mất bằng cách hỏi thẳng nhóm người đang nắm giữ nó.

  1. Kỹ thuật hỏi cung Reid

Kỹ thuật Reid được John E. Reid, một cựu cảnh sát Chicago và chuyên gia phân tích máy phát hiện nói dối, phát triển trong những năm 1940-1950 cùng với luật sư Fred Inbau, và được hệ thống hóa trong cuốn sách "Criminal Interrogation and Confessions" xuất bản năm 1962.

Đây được xem là bộ quy chuẩn kinh điển nhất về kỹ thuật hỏi cung của cảnh sát Mỹ và nhiều quốc gia khác trong suốt nhiều thập kỷ, được phía ủng hộ mô tả như công cụ giúp tạo điều kiện để nghi phạm nói ra sự thật. Nhưng bản chất của kỹ thuật này không phải là tra tấn thể xác mà là chiến tranh tâm lý, với mục tiêu đưa nghi phạm vào trạng thái khủng hoảng tâm lý để việc thừa nhận tội lỗi trở thành lựa chọn duy nhất và dễ chịu nhất tại thời điểm đó.

Quy trình gồm chín bước, được thực hiện sau khi cảnh sát đã phỏng vấn sơ bộ và khẳng định trong đầu rằng nghi phạm chính là thủ phạm.

- Bước một là buộc tội trực diện, khi cảnh sát tuyên bố chắc nịch rằng đã có đầy đủ bằng chứng, nhằm đánh gục tư tưởng phòng thủ ban đầu.

- Bước hai là định hướng lý do, khi cảnh sát tỏ ra cảm thông và đưa ra các lý do bào chữa cho hành vi như hoàn cảnh bế tắc hay bị xúi giục, nhằm giảm cảm giác rủi ro và mức độ nghiêm trọng trong nhận thức của nghi phạm.

- Bước ba là dập tắt sự phủ nhận, khi điều tra viên ngắt lời ngay mỗi khi nghi phạm nói không làm, vì càng lặp lại lời phủ nhận thì ý chí chống cự càng trở nên kiên định, còn việc liên tục bị chặn đứng sẽ làm suy yếu ý chí đó.

- Bước bốn là bác bỏ các lý do bào chữa mà nghi phạm đưa ra, bằng cách dùng chính lý do đó để tiếp tục phát triển chủ đề cảm thông ở bước hai.

- Bước năm là giữ vững sự chú ý, khi nghi phạm bắt đầu im lặng và có dấu hiệu buông xuôi, điều tra viên tiến lại gần hơn, nhìn thẳng vào mắt hoặc chạm nhẹ vào vai để duy trì sự tập trung tối đa.

- Bước sáu là xoa dịu và hướng tới sự hối lỗi, nhấn mạnh vào khía cạnh đạo đức và sự giải thoát tâm lý khi nói ra sự thật.

- Bước bảy, được xem là bước ngoặt quan trọng nhất, là đưa ra câu hỏi lựa chọn với hai phương án nhưng cả hai đều đã ngầm thừa nhận hành vi phạm tội, chẳng hạn:

"Anh lên kế hoạch giết cô ấy để lấy tiền, hay đó chỉ là bộc phát do vô tình cãi nhau?"

hoặc

"Anh ăn trộm tiền để ăn chơi, hay vì gia đình anh đang túng thiếu?"

Phương án thứ hai trong mỗi cặp câu hỏi luôn nghe có vẻ nhẹ nhàng và nhân văn hơn khiến nghi phạm dễ sập bẫy để tự bảo vệ lòng tự trọng, nhưng ngay khi chọn, họ đã chính thức thừa nhận phạm tội.

- Bước tám là để nghi phạm tự tường thuật lại toàn bộ diễn biến vụ án để khớp với chứng cứ thực tế

- Bước chín là chuyển toàn bộ lời thừa nhận thành văn bản, video hoặc băng ghi âm có chữ ký để sử dụng trước tòa.

Theo giới nghiên cứu tâm lý học pháp lý, hiệu quả của kỹ thuật Reid gắn với ba cơ chế có thể làm tăng nguy cơ nghi phạm nhận tội, kể cả khi vô tội:

- Một là gia tăng áp lực tâm lý, khi điều tra viên thổi phồng mức độ nghiêm trọng của bằng chứng, đôi khi nói dối rằng đã thu được DNA hay dấu vân tay dù thực tế chưa có, khiến nghi phạm thấy tình thế đã hoàn toàn bế tắc.

- Hai là giảm thiểu cảm giác hậu quả, khi điều tra viên bình thường hóa tội lỗi để nghi phạm hạ thấp hàng rào phòng thủ.

- Ba là việc cô lập, kéo dài thẩm vấn và liên tục bác bỏ lời phủ nhận có thể gây kiệt quệ tâm lý, khiến việc nhận tội cho xong trở nên hấp dẫn hơn việc tiếp tục đấu trí, đặc biệt ở người chưa thành niên hoặc người dễ bị tổn thương tâm lý.

Dù từng rất phổ biến, kỹ thuật Reid ngày càng bị chỉ trích và hạn chế vì nguy cơ tự nhận tội giả. Nhiều người vô tội do tâm lý yếu, bị giam giữ quá lâu và bị thao túng tâm lý đã tin rằng mình không còn đường lui, hoặc bị ám thị rằng chính mình đã gây ra tội lỗi trong lúc không nhớ.

Ở Anh, mô hình phỏng vấn điều tra PEACE, tập trung vào thu thập thông tin khách quan thay vì cố ép nghi phạm nhận tội bằng được, đã trở thành khung chuẩn được cảnh sát nước này áp dụng chính thức và được nhiều nơi khác, trong đó có Na Uy, Úc và một số bang ở Mỹ, tham khảo hoặc điều chỉnh áp dụng theo mức độ khác nhau tùy vào quy định pháp luật của từng nơi.

  1. Quy mô lực lượng an ninh của Đông Đức so với một số nước khác trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh

Việc lực lượng an ninh có quy mô rất lớn so với tỷ lệ dân số tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, là một thực tế lịch sử đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, bắt nguồn từ đặc thù về mô hình thể chế, học thuyết quản trị và bối cảnh lịch sử chứ không chỉ để duy trì trật tự đường phố đơn thuần.

Nguyên nhân đầu tiên là triết lý an ninh toàn diện: nhiệm vụ của lực lượng an ninh trong mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống không chỉ là bắt tội phạm hình sự mà là bảo vệ thể chế và sự ổn định xã hội trên mọi mặt kinh tế, tư tưởng, văn hóa, báo chí và đời sống dân sự.

Khi lực lượng an ninh đảm nhiệm thêm nhiệm vụ kiểm duyệt, chống tình báo, quản lý nhân khẩu chặt chẽ và giám sát các tổ chức xã hội, số lượng nhân sự bắt buộc phải tăng lên gấp nhiều lần so với mô hình cảnh sát chỉ tập trung vào tội phạm hình sự.

Nguyên nhân thứ hai là tâm lý bị đe dọa từ bên ngoài trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, khi các quốc gia xã hội chủ nghĩa luôn phải đối phó với nguy cơ gián điệp và sự can thiệp từ khối tư bản đối lập, khiến lực lượng an ninh đông đảo đóng vai trò lá chắn ngăn chặn hoạt động phản động hoặc tình báo nước ngoài cài cắm.

Nguyên nhân thứ ba là mạng lưới cơ sở quần chúng khổng lồ: bên cạnh lực lượng chính quy, việc quản lý và phân tích thông tin đổ về từ hàng triệu tai mắt trong dân chúng đòi hỏi một bộ máy sĩ quan điều phối cực kỳ lớn.

Nguyên nhân thứ tư là quản lý kinh tế tập trung: trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên cảnh sát và an ninh phải đảm nhận thêm việc chống đầu cơ, tích trữ, buôn lậu và tuồn hàng hóa ra thị trường đen, khiến quy mô lực lượng càng phình to.

Bộ An ninh Quốc gia Đông Đức, thường gọi là Stasi, được các nhà sử học đánh giá là bộ máy giám sát an ninh dày đặc và toàn diện bậc nhất trong lịch sử nhân loại, dù quy mô và mức độ giám sát ở các nước xã hội chủ nghĩa khác như Liên Xô, Trung Quốc hay Cuba không hoàn toàn đồng nhất với mô hình Đông Đức.

Đến năm 1989, khi Đông Đức có khoảng 16 triệu dân, Stasi có khoảng 91.000 sĩ quan chính quy và một mạng lưới cộng tác viên ngầm được ước tính trong khoảng 170.000 đến 190.000 người tùy nguồn thống kê.

Nếu chỉ tính sĩ quan chính quy, tỷ lệ vào khoảng một sĩ quan Stasi trên mỗi 170-180 người dân tùy cách tính. Nếu tính cả mạng lưới cộng tác viên ngầm, tỷ lệ đạt mức khoảng một người làm việc cho Stasi trên mỗi 60-90 người dân tùy nguồn thống kê và cách gộp hai nhóm.

Nhiều nguồn phổ biến đưa ra so sánh rằng tỷ lệ này ở lực lượng mật thám Gestapo thời Đức Quốc xã chỉ khoảng 1 trên 2.000, dù các con số so sánh cụ thể giữa Stasi, Gestapo và KGB dao động khá lớn giữa các nguồn do khác nhau về định nghĩa nhân sự chính thức, cộng tác viên hay toàn bộ mạng lưới, nên hiểu đây là những ước tính minh họa quy mô chứ không phải số liệu thống nhất tuyệt đối.

Mạng lưới cộng tác viên ngầm của Stasi thâm nhập mọi ngóc ngách đời sống, từ đồng nghiệp, hàng xóm, thầy giáo, bác sĩ cho đến vợ chồng hay người thân trong gia đình.

Thay vì bắt bớ công khai gây xáo trộn xã hội, Stasi còn sử dụng một nhóm biện pháp tâm lý và hành chính đa dạng gọi chung là Zersetzung, tức phân rã tâm lý, bao gồm theo dõi, gây khó khăn nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ xã hội, tung tin đồn thất thiệt, và trong một số trường hợp còn bí mật đột nhập nhà làm thay đổi vị trí đồ đạc để phá hủy ý chí chống đối từ bên trong.

Khi người dân nhận ra ai cũng có thể là an ninh, họ có xu hướng tự điều chỉnh hành vi của mình, và cảm giác bị giám sát liên tục này được xem là một trong những yếu tố góp phần vào mức độ tuân thủ pháp luật và an ninh đường phố rất cao ở Đông Đức, dù mức độ đóng góp của riêng nhân tố này so với các yếu tố khác khó tách bạch rạch ròi.

Về mặt tích cực, tỷ lệ tội phạm thông thường như trộm cắp, cướp giật, giết người hay băng nhóm đường phố ở các quốc gia này cực kỳ thấp, và người dân có cảm giác an toàn tuyệt đối khi đi lại trên đường phố vào ban đêm.

Về mặt hạn chế, chi phí vận hành bộ máy khổng lồ này gánh nặng lên ngân sách nhà nước, đồng thời niềm tin xã hội giữa người với người bị tổn thương nặng nề khi sự nghi ngờ hiện diện khắp nơi.

An ninh ở các nước xã hội chủ nghĩa nhìn chung đông đảo vì nhiệm vụ của họ bao hàm cả trật tự xã hội lẫn an ninh thể chế, và trong số các mô hình đó, Stasi ở Đông Đức là trường hợp cực đoan và được tư liệu hóa đầy đủ nhất, nơi trật tự được thiết lập bằng sự phủ sóng tối đa của bộ máy quản lý.

  1. Năng lực cảnh sát giữa các quốc gia hiện nay

Trên thế giới đã và đang có các nghiên cứu và chỉ số đo lường so sánh hiệu quả hoạt động cảnh sát giữa các quốc gia, tuy các nhà nghiên cứu tránh dùng từ "giỏi hơn" vì quá cảm quan mà đánh giá dựa trên các bộ chỉ số tiêu chuẩn như năng lực thực thi, mức độ tin cậy của dân, tỷ lệ phá án và tính minh bạch.

Chỉ số An ninh Nội địa và Cảnh sát Thế giới, viết tắt WISPI, do Hiệp hội Khoa học Cảnh sát Quốc tế phối hợp với Viện Kinh tế và Hòa bình xây dựng, không đo riêng "cảnh sát giỏi hay không" mà đánh giá năng lực của các nhà cung cấp an ninh nội địa nói chung ở hơn 120 quốc gia, dựa trên bốn nhóm tiêu chí gồm nguồn lực, quy trình, tính chính danh và kết quả.

Đây không phải một chỉ số được cập nhật đều đặn hằng năm, ấn bản được biết đến nhiều nhất là năm 2016, nên các nước như Singapore, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, Áo hay Thụy Sĩ chỉ có thể nói là từng nằm trong nhóm dẫn đầu ở những ấn bản đã công bố, chứ chưa đủ dữ liệu nhiều năm để khẳng định là "thường xuyên" dẫn đầu.

Chỉ số Trật tự và Pháp luật của Gallup lại đo một điều khác: cảm nhận của người dân về mức độ an toàn và niềm tin vào cảnh sát địa phương, dựa trên khảo sát định kỳ hằng năm. Báo cáo năm 2023 của Gallup, dựa trên hơn 146.000 cuộc phỏng vấn ở hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy Phần Lan, Na Uy, Iceland và Kuwait nằm trong nhóm điểm số Trật tự và Pháp luật cao nhất, trong khi Singapore nổi bật hơn ở chỉ báo riêng về cảm giác an toàn khi đi bộ một mình vào ban đêm, với khoảng 95% người được hỏi trả lời có.

Hai loại chỉ số này đo những khía cạnh khác nhau và không nên gộp chung thành một bảng xếp hạng duy nhất.

Một báo cáo năm 2023 của tổ chức nghiên cứu RAND Corporation, khảo sát cách đo lường hiệu quả cảnh sát ở 10 quốc gia, cũng kết luận rằng việc đo lường hiệu quả cảnh sát là một hoạt động phức tạp, phụ thuộc chặt vào bối cảnh xã hội, pháp lý, thể chế và chính trị riêng của từng nước, nên các định nghĩa và phương pháp đo lường cần liên tục được cập nhật cho phù hợp thay vì áp một khung chung cho mọi quốc gia.

Việc so sánh trực tiếp "cảnh sát nước nào giỏi hơn" rất khó vì ba lý do;

- Một là các mô hình hoạt động khác nhau: cảnh sát Mỹ thiên về trấn áp mạnh tay và giải quyết tội phạm bạo lực, cảnh sát Nhật Bản theo mô hình Koban thiên về cắm chốt địa phương và phòng ngừa hơn là chữa cháy, còn cảnh sát Anh theo truyền thống không mang súng khi tuần tra thông thường.

- Hai là khác biệt về luật pháp và xã hội: một nước sở hữu súng đạn tự do như Mỹ tạo ra môi trường nguy hiểm hơn nhiều cho cảnh sát so với các nước kiểm soát súng đạn rất nghiêm ngặt như Nhật Bản, Singapore hay Việt Nam.

- Ba là tiêu chuẩn đo tỷ lệ phá án không thống nhất: một số quốc gia tính dựa trên số vụ bắt giữ, trong khi nước khác lại tính dựa trên số vụ tuyên án thành công tại tòa.

Singapore thường được đánh giá cao trên các chỉ số cảm nhận an toàn nhờ ứng dụng công nghệ, phân tích dữ liệu và camera giám sát ở nhiều khu vực công cộng cùng luật pháp nghiêm minh, đi kèm tỷ lệ tội phạm thuộc nhóm thấp nhất thế giới.

Phần Lan và các nước Bắc Âu đòi hỏi cảnh sát tuần tra trải qua quá trình đào tạo khắt khe, ở Phần Lan kéo dài khoảng 3 năm ở bậc đại học, với tỷ lệ lạm dụng quyền lực được ghi nhận ở mức rất thấp so với mặt bằng chung và niềm tin của người dân luôn ở mức cao.

Nhật Bản nổi tiếng với mô hình đồn cảnh sát góc phố Koban, tập trung vào sự gắn kết cộng đồng và phòng chống tội phạm từ sớm thay vì chỉ phản ứng sau khi vụ việc xảy ra, đi kèm với việc kiểm soát súng đạn trong dân cư ở mức rất nghiêm ngặt.

Riêng sự tồn tại của mô hình Koban không tự nó chứng minh cảnh sát Nhật Bản vượt trội hơn mọi hệ thống khác, mà chỉ là một trong nhiều cách tiếp cận được đánh giá cao trong bối cảnh xã hội và pháp lý riêng của nước này.

Cre: Xóm Văn Hóa

u/AnotherPersonality8 — 7 days ago

Một nghiên cứu mới cho rằng nền văn minh Indus có thể là xã hội bình đẳng nhất trong thế giới cổ đại - nhưng các học giả vẫn còn tranh cãi.

Mohenjo Daro, một trong những trung tâm chính của nền văn minh thung lũng Indus—hay Harappan—được quy hoạch tỉ mỉ, với hệ thống thoát nước, đường phố được tổ chức bài bản và các công trình xây dựng bằng gạch tiêu chuẩn. Những ngôi nhà có kích thước tương đương nhau thậm chí còn có hệ thống cấp nước trong nhà từ thời kỳ đầu.

Nhưng bất chấp sự tổ chức tỉ mỉ của nó, nhiều điều về đô thị cổ đại này—bao gồm cả hệ thống chữ viết và tổ chức xã hội—vẫn còn là bí ẩn. Các cuộc khai quật gần đây đã được tiến hành tại thành phố cổ sau nhiều thập kỷ gián đoạn—như đã được ghi nhận trong số báo tháng 5 của National Geographic—và các nhà nghiên cứu đang đào sâu tìm hiểu một số câu hỏi cấp bách nhất về Mohenjo Daro, bao gồm cả việc liệu nó có từng có những người cai trị thuộc tầng lớp thượng lưu hay không.

Một nghiên cứu mới được công bố hồi đầu tháng này trên tạp chí Antiquity cho thấy rằng trung tâm đa văn hóa này có thể là nơi bình đẳng nhất trong thế giới cổ đại, ít nhất là dựa trên bằng chứng khảo cổ học hiện tại.

Mohenjo Daro là khu định cư lớn nhất của nền văn minh thung lũng Indus cổ đại. Nhiều cuộc khai quật quan trọng đã được tiến hành tại địa điểm này kể từ khi nó được phát hiện vào những năm 1920. Nó nằm ở quận Larkana thuộc tỉnh Sind, Pakistan.

Kích thước điển hình của các công trình xây dựng thuộc nền văn minh sông Indus, đặc biệt là thành phố Mohenjo Daro, có tỷ lệ 4:2:1. Gạch có kích thước xấp xỉ 28 x 14 x 7 cm, với một số biến thể cho việc xây dựng giếng, lò nung hoặc cống rãnh. Gạch được nung trong lò để tăng khả năng chống ẩm và mưa lớn.

Ngài John Marshall, giám đốc Cơ quan Khảo cổ học Anh, người giám sát các cuộc khai quật đầu tiên tại các thành phố thuộc nền văn minh Indus vào những năm 1920, đã ghi nhận sự vắng mặt của các cung điện, lăng mộ hoàng gia và tượng đài, hoặc các công trình liên quan đến giới thượng lưu.

Tuy nhiên, kể từ sau các cuộc khai quật của Marshall, nhiều học giả đã phản bác ý tưởng về một xã hội không có người lãnh đạo. Vào những năm 1960, một số nhà nhân chủng học có ảnh hưởng đã cố gắng đưa sự phát triển của tất cả các xã hội vào một mô hình duy nhất , tiến triển tuyến tính từ các bộ lạc đến các quốc gia. Kết quả là, nhiều nhà khảo cổ học kết luận  rằng nền văn minh Indus chắc chắn phải có một tầng lớp thống trị—và bằng chứng về sự tồn tại của họ đơn giản là chưa được tìm thấy trong lòng đất.

Nhưng Adam Green , một nhà khảo cổ học tại Đại học York ở Anh và là tác giả của bài báo mới, cho rằng nếu các vị vua chúa thực sự tồn tại, họ hẳn đã xuất hiện trong các bằng chứng khảo cổ từ lâu rồi. Ông nói: “Các vị vua không hề kín đáo”.

Kết quả từ nghiên cứu mới của Green cho thấy rằng, khi thành phố Mohenjo-Daro thuộc nền văn minh Indus mở rộng thành một trong những trung tâm đô thị lớn đầu tiên của thế giới cổ đại, nó thậm chí còn trở nên bình đẳng hơn chứ không phải ngược lại.

Những hiện vật và tàn tích còn sót lại của một xã hội cổ đại.

Năm 2020, Green đã công bố một luận điểm ủng hộ chủ nghĩa bình đẳng ở nền văn minh Indus trên Tạp chí Nghiên cứu Khảo cổ học . Green lập luận rằng, sau 100 năm nghiên cứu về nền văn minh Indus, bằng chứng còn thiếu về tầng lớp thượng lưu không phải là một lỗ hổng trong hồ sơ khảo cổ học. Ông nói: “Đôi khi, sự thiếu bằng chứng thực chất lại là bằng chứng của sự vắng mặt”.

Một số đồng nghiệp của ông không tin như vậy. Trong một bài báo sau đó vào năm 2022 trên Tạp chí Khảo cổ học, một số học giả đồng ý rằng nền văn minh Indus có thể không có một người cai trị duy nhất, nhưng họ không cho rằng đó nhất thiết là một xã hội công bằng.

Bản sao của bức tượng \"Cô gái nhảy múa\" là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng thời tiền sử được chế tác bằng phương pháp đúc sáp thất truyền, có niên đại khoảng năm 2300–1751 trước Công nguyên tại Mohenjo Daro.

Nhưng Green cũng nhận thấy nhiều dấu hiệu vật chất của sự bình đẳng. Ví dụ, ông chỉ ra rằng các vật phẩm gắn liền với sự giàu có, như hạt cườm và vòng tay, đã được tìm thấy trong nhiều  ngôi nhà ở các thành phố thuộc nền văn minh Indus như Mohenjo Daro và Harappa.

Các cuộc khai quật tại những khu vực được cho là nơi cư trú cũng đã phát hiện ra hàng ngàn con dấu bằng đá được chạm khắc tinh xảo, được sử dụng để bảo vệ hàng hóa và hỗ trợ thương mại giữa các địa điểm thuộc nền văn minh Indus. Ở các xã hội khác cùng thời, như Mesopotamia, những con dấu tương tự thường được tập trung tại các công trình kiến ​​trúc đồ sộ như đền thờ và cung điện, nơi các nhà cai trị tích trữ hàng hóa.

Green cũng lưu ý bằng chứng về sự quản trị tập thể trong kiến ​​trúc của thành phố. Ở Mohenjo-Daro, những công trình thiếu các đặc điểm thường thấy trong nhà ở của thành phố, như lò sưởi và sân trong, lại được đặt tại các giao lộ quan trọng với lối vào ở nhiều phía, khiến chúng trở nên mở và dễ tiếp cận. Ông lập luận rằng đây là những không gian công cộng nơi mọi người có thể gặp gỡ, đàm phán và phối hợp.

Các học giả thời cổ đại định lượng sự bất bình đẳng như thế nào?

Green đã kiểm chứng lý thuyết về chủ nghĩa bình đẳng của nền văn minh Indus khi ông tham gia một nhóm các nhà nghiên cứu theo dõi các mô hình bất bình đẳng trong hơn 20.000 năm. Nỗ lực này, được gọi là dự án Động lực Toàn cầu của Bất bình đẳng (GINI) , đang nghiên cứu sự phân bố của cải ở 4.000 khu định cư trên khắp thế giới và gán cho mỗi khu định cư một con số mà họ gọi là hệ số Gini.  Điểm số dao động từ 0, thể hiện sự bình đẳng hoàn toàn, đến 1, phản ánh sự bất bình đẳng tối đa.

Bằng cách nghiên cứu chỉ một khu phố ở Mohenjo Daro, các nhà nghiên cứu về bất bình đẳng trong thế giới cổ đại đã tính toán được một điểm số cho thấy đây là một xã hội có tính bình đẳng cao.

Để phân tích sự bình đẳng ở thung lũng Indus, Green và các đồng nghiệp đã xem xét các ngôi nhà Mohenjo Daro được khai quật vào đầu thế kỷ 20. ^(Họ) sử dụng kích thước nhà ở như một thước đo gián tiếp cho sự giàu có, giả định rằng sự khác biệt về kích thước nhà ở thể hiện sự bất bình đẳng. 

Khi hệ số Gini của Mohenjo Daro được tính toán và công bố trên cơ sở dữ liệu dự án GINI vào năm 2025, nó đạt mức 0,44. Mặc dù kết quả cho thấy nền văn minh Indus bình đẳng hơn các thành phố khác ở Tây Á vào thời điểm đó, chẳng hạn như Ur (0,71) và Ugarit (0,67), nhưng con số này vẫn "cao hơn tôi dự đoán", Green nói. Tuy nhiên, Green nghi ngờ rằng con số đó bị sai lệch do bộ dữ liệu trải dài gần 1.000 năm, từ năm 2500 đến 1900 trước Công nguyên.   

Trong nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu đã theo dõi chỉ số Gini theo thời gian tại một khu phố duy nhất ở Mohenjo-Daro  , nơi dữ liệu có sẵn cho phép họ phân nhóm các ngôi nhà dựa trên tuổi đời. Trong khi chỉ số Gini bắt đầu ở mức khoảng 0,39 vào năm 2500 TCN, nó giảm xuống còn 0,32 vào giai đoạn giữa của nền văn minh vào năm 2300 TCN. Đến năm 2100 TCN, giai đoạn phát triển mạnh nhất của thành phố, chỉ số này đạt mức 0,23—thấp tương đương với các cộng đồng thời kỳ đồ đá mới nhỏ hơn và kém phức tạp hơn nhiều.

Sự gia tăng rõ rệt về bình đẳng cũng trùng hợp với sự gia tăng tổ chức cộng đồng và sự thịnh vượng, chẳng hạn như việc thiết lập hệ thống lưới đường phố và các ngôi nhà tiêu chuẩn hóa hơn với sân trong và sàn tắm, điều này cho thấy Green nhận định rằng xã hội Indus trở nên bình đẳng hơn theo thời gian.

Tại sao vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp?

Một số đồng nghiệp của Green cho rằng cách nhìn mới này về sự bất bình đẳng ở Mohenjo Daro chỉ đơn thuần là một dữ liệu thú vị.

Các hiện vật được tìm thấy tại Mohenjo Daro bao gồm một con bò đực đang ăn ở máng hoặc uống nước (trên), một bức tranh mô tả hoạt động thờ cúng trong đời sống đô thị (trái) và một bức tượng nhỏ tượng trưng cho một con vật (phải).

“Tôi nghĩ kết quả này rất thú vị. Nếu chúng ta chấp nhận kích thước nhà ở như một thước đo gián tiếp, thì rõ ràng chúng cho thấy sự thay đổi theo thời gian cùng với sự gia tăng hoạt động thương mại trên các con phố,” Danika Parikh , một nhà khảo cổ học tại Đại học Sussex, người đã từng hợp tác với các tác giả trước đây nhưng không tham gia vào nghiên cứu mới này, cho biết. “Mohenjo Daro là một địa điểm đặc biệt, vì vậy sẽ rất thú vị nếu xem xét những kết quả này trong bối cảnh so sánh với một số thành phố khác thuộc nền văn minh Indus.”

Nguồn: https://www.nationalgeographic.com/history/article/indus-valley-egalitarian-ancient-society-mohenjo-daro

u/AnotherPersonality8 — 9 days ago

Hấp dẫn không phải là lực, mà là sự biến dạng của không-thời gian 🌌🌀

Theo thuyết tương đối tổng quát của Einstein, các vật thể có khối lượng không "hút" nhau qua khoảng không trống rỗng. Thay vào đó, chúng uốn cong cấu trúc không-thời gian xung quanh, tạo ra các "giếng" mà các vật thể khác buộc phải di chuyển theo đường cong đó, tạo ra hiệu ứng mà chúng ta gọi là trọng lực.

🌞 Sự tương tác này là "keo dán" giữ cho các thiên hà không bị tan rã và các hành tinh không bay văng khỏi quỹ đạo. Nếu lực hấp dẫn biến mất trong một giây, mọi vật chất trên Trái Đất sẽ bị văng ra không gian theo đường thẳng với vận tốc tự quay của hành tinh, tương đương với việc bạn đang ngồi trên một chiếc xe đua đột ngột dừng lại ở tốc độ khoảng 1.670 km/h tại xích đạo.

——

🚀 Kính thiên văn James Webb đã chứng minh hiện tượng thấu kính hấp dẫn, nơi khối lượng khổng lồ của các cụm thiên hà bẻ cong ánh sáng từ những vật thể xa xôi phía sau chúng. Điều này cho phép chúng ta quan sát được những thiên hà cổ xưa nhất, vốn nằm ngoài tầm nhìn trực tiếp, giống như việc sử dụng một chiếc kính lúp khổng lồ được tạo ra bởi chính cấu trúc của vũ trụ.

——

🌌 Lực hấp dẫn mạnh đến mức tại chân trời sự kiện của một lỗ đen, vận tốc thoát ly vượt quá tốc độ ánh sáng (khoảng 300.000 km/s, chính xác là 299.792 km/s). Để hình dung, nếu bạn muốn thoát khỏi chân trời sự kiện của lỗ đen siêu khối lượng Sagittarius A ở tâm Ngân Hà, bạn cần di chuyển nhanh gấp khoảng 1,2 triệu lần tốc độ của một chiếc máy bay phản lực thương mại hiện đại nhất (khoảng 900 km/h).

Cre: Vũ trụ kì thú

u/AnotherPersonality8 — 9 days ago

Thế kỉ 17, khi tử thần chạy KPI toàn cầu cùng bóng ma Tiểu Băng Hà

Nếu Tử thần thực sự có một bảng KPI cần hoàn thành, thì thế kỷ 17 chắc chắn là giai đoạn nhân viên mẫn cán này được phong danh hiệu xuất sắc nhất. Chỉ trong vòng vài thập kỷ ngắn ngủi, cỗ máy tử vong đã quét qua gần như mọi nền văn minh lớn nhất trên lục địa Á - Âu.

Ở Á Đông, nhà Minh sụp đổ trước nhà Thanh, kéo sinh mạng của khoảng 25 - 40 triệu người. Trước khi quân Thanh tiến vào Bắc Kinh, nhà Minh đã bị khoét rỗng bởi khủng hoảng tài chính, mất mùa, dịch bệnh và những cuộc nổi dậy khổng lồ. Lý Tự Thành chiếm Bắc Kinh, Sùng Trinh Đế tự vẫn. Sau đó quân Mãn Châu vượt Sơn Hải Quan, nhưng việc thống nhất Trung Quốc còn kéo dài hàng chục năm, với chiến tranh chống các chính quyền Nam Minh và những lực lượng khác.

Ở vùng băng tuyết, nước Nga chìm trong "Thời kỳ Đại Loạn" (Time of Troubles) - một món lẩu gồm khủng hoảng kế vị, nội chiến, những ông vua giả Dmitrii, nổi dậy và sự can thiệp của Ba Lan–Litva. Đặc biệt, nạn đói 1601–1603 đẩy tình hình tới bờ vực. Đến năm 1613, Mikhail Romanov được đưa lên ngai vàng, mở đầu vương triều Romanov tồn tại hơn ba thế kỷ.

Còn ở Trung Âu, từ 1618 đến 1648 diễn ra Chiến tranh Ba Mươi Năm biến hàng trăm đô thị phồn hoa thành bãi tro tàn. Một cuộc xung đột ban đầu mang đậm màu sắc Công giáo–Tin Lành cuối cùng trở thành cuộc chiến hỗn loạn giữa quyền lực của hoàng đế Habsburg, quyền lợi của các thân vương Đức, rồi Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp, Tây Ban Nha…

Chiến tranh Ba Mươi Năm vừa kết thúc năm 1648 thì phía đông châu Âu lại chuẩn bị bước vào một cơn bão khác. Liên bang Ba Lan–Litva trước đó là một trong những quốc gia rộng và hùng mạnh nhất châu Âu. Nhưng từ cuộc nổi dậy Khmelnytsky năm 1648, chiến tranh với Nga, rồi cuộc xâm lược của Thụy Điển năm 1655 – thứ người Ba Lan gọi đơn giản là “Đại Hồng Thủy” (Potop, The Deluge) – đất nước bị cuốn vào một chuỗi chiến tranh liên tục. Nhiều đô thị ở Litva mất từ 40 đến 90% dân số; sự tàn phá vật chất cũng khủng khiếp, từ thành phố, nhà thờ tới thư viện và kho lưu trữ.

Thế thì tại sao cả bỗng nhiên cả thế giới lại cùng phát sốt?

Vấn đề thực sự nằm ở trên trời. Theo nghĩa đen.

Chào mừng đến với "Cuộc khủng hoảng chung thế kỷ 17" (The General Crisis), một chuỗi phản ứng dây chuyền được kích hoạt bởi hiện tượng khí hậu cực đoan mang tên Tiểu Băng Hà (Little Ice Age).

Đó là lúc nhiệt độ toàn cầu đột ngột hạ thấp. Mùa đông kéo dài hơn, mùa hè mát lạnh đi không khiến thời tiết trở nên dễ chịu hơn, mà khiến mưa bão trở nên thất thường. Với chúng ta ngày nay, nhiệt độ giảm vài độ C có nghĩa là mặc thêm một chiếc áo khoác. Nhưng ở thế kỷ 17, khi năng lực quốc gia cắm rễ hoàn toàn vào sản lượng nông nghiệp, vài độ C đó là một bản án tử hình.

Cơ chế vận hành của thảm họa này vô cùng đơn giản nhưng tàn nhẫn: Trời lạnh dẫn đến mùa màng thất bát, mùa màng thất bát dẫn đến nạn đói. Khi nông dân đói, họ không thể đóng thuế lương thực. Khi không thu được thuế, triều đình cạn kiệt ngân khố. Khi triều đình hết tiền, binh lính ở tiền tuyến không được trả lương và cắt xén khẩu phần. Một người đàn ông có vũ trang mà không có lương thực sẽ rất nhanh chóng chuyển nghề thành thổ phỉ, hoặc quay giáo làm phản.

Nhà Minh không chỉ thua vì kỵ binh Bát Kỳ của người Mãn Châu dũng mãnh. Họ thua vì hạn hán kinh khủng kéo dài diễn ra vào thời điểm mà xã hội của họ đang yếu ớt nhất. Lương thực không mọc nổi ở phương Bắc lạnh lẽo, triều đình không có tiền cứu trợ, những nông dân chết đói buộc phải đi theo Lý Tự Thành để tìm đường sống. Cùng lúc đó, lính biên phòng không có quân lương cũng quyết định gia nhập luôn phe nổi dậy. Và giới quan lại quý tộc thì có quá nhiều đặc quyền để chấp nhận chung chi cứu vớt quốc gia.

Ở phía bên kia bán cầu, Chiến tranh Ba Mươi Năm ở châu Âu nhanh chóng thoát khỏi vỏ bọc thánh chiến tôn giáo để lộ ra bản chất của một cơn ác mộng. Không một vị vua nào đủ tiền túi để nuôi các đạo quân hàng vạn người đánh nhau ròng rã hàng chục năm. Các đạo quân khổng lồ này biến thành những bầy châu chấu vũ trang, di chuyển liên tục từ vùng này sang vùng khác, áp dụng triệt để nguyên tắc "chiến tranh nuôi chiến tranh". Bất cứ nơi nào họ đi qua, cỏ không mọc được – theo nghĩa đen. "Đại Hồng Thủy" ở Ba Lan cũng vậy; làn sóng quân Thụy Điển tràn ngập, vắt kiệt và thiêu rụi mọi thứ trên đường hành quân.

Sử gia Geoffrey Parker thậm chí lưu ý rằng riêng giữa thế kỷ XVII đã xuất hiện số trường hợp nhà nước đồng loạt rơi vào khủng hoảng và tan rã nhiều đến mức hiếm thấy trong lịch sử trước đó.

Tất nhiên, xã hội hiếm khi sụp đổ chỉ vì một nguyên nhân. Khí hậu xấu không nhất thiết tạo ra chiến tranh. Chiến tranh cũng không nhất thiết làm một nhà nước tan rã. Nhưng khi mất mùa, dịch bệnh, khủng hoảng tài chính, tranh giành quyền lực và chiến tranh cùng xuất hiện, những hệ thống tưởng như vững chắc có thể đổ rất nhanh.

Năm 1600, chẳng mấy ai ở Bắc Kinh, Moskva hay Praha nghĩ rằng mình đang bước vào một trong những giai đoạn hỗn loạn nhất của thời cận đại.

Cre: Thế Giới Ngày Xưa Không Nhạt Lắm

u/AnotherPersonality8 — 10 days ago

Du hành giữa các vì sao có thể sớm trở thành hiện thực.

Việc xác nhận gần đây về sự hiện diện của bầu khí quyển xung quanh một hành tinh đá ngoài hệ mặt trời có tên LHS 1140b đã tạo ra một làn sóng quan tâm trong cộng đồng thiên văn học. Hành tinh này quay quanh ngôi sao mẹ của nó – một sao lùn đỏ nằm trong vùng có thể sống được, cách Trái đất khoảng 48 năm ánh sáng.

Vùng có thể sinh sống là khu vực xung quanh ngôi sao nơi nhiệt độ vừa phải để nước có thể tồn tại ở dạng lỏng trên bề mặt hành tinh . Các nhà thiên văn học đã phát hiện khí heli bị mất đi từ tầng khí quyển phía trên của LHS 1140b . Nhưng các hợp chất hóa học nặng hơn, chẳng hạn như nước, một thành phần quan trọng cho sự sống, có thể tồn tại ở các tầng khí quyển thấp hơn .

Việc quan sát các hành tinh ngoài hệ mặt trời ở xa bằng kính viễn vọng mở ra những cánh cửa mới cho khoa học, nhưng liệu việc du hành đến những thế giới này và quan sát chúng cận cảnh có bao giờ trở thành hiện thực? Mặc dù điều này thường được xem là chuyện viễn tưởng cho đến nay, nhưng các công nghệ mới nổi cho phép chúng ta hình dung ra một tương lai nơi những sứ mệnh như vậy có thể khả thi trong những thập kỷ tới.

Hiện nay, người ta đặc biệt quan tâm đến các tàu vũ trụ thu nhỏ dành cho các chuyến du hành giữa các vì sao. Phần lớn là vì việc phóng một tàu vũ trụ nhỏ đến một hệ sao khác – và hoàn thành trong suốt cuộc đời của một người – dễ dàng và tiết kiệm chi phí hơn so với việc sử dụng một phương tiện lớn.

Việc thu nhỏ các cảm biến đã có những bước tiến vượt bậc, ví dụ như thông qua công nghệ điện thoại thông minh, nơi các camera có khả năng cao với khối lượng, công suất và kích thước nhỏ được sử dụng thường xuyên. Các nhà nghiên cứu thậm chí đã phát triển "bụi thông minh" ; các cảm biến có kích thước milimet hoặc nhỏ hơn có thể phát hiện ánh sáng, nhiệt độ hoặc hóa chất.

Bản thân tàu thăm dò không gian sẽ cần một hệ thống đẩy có khả năng tăng tốc nó lên tốc độ tương đối nhẹ, khoảng 10-20% tốc độ ánh sáng. Sau hành trình kéo dài nhiều thập kỷ, các cảm biến sẽ đi xuyên qua hệ sao mục tiêu mà không dừng lại, thực hiện quan sát tại chỗ và sau đó từ từ truyền dữ liệu về Trái đất.

Tuy không hoàn toàn giống như phim Star Trek, nhưng đây là một ý tưởng khả thi cho phép chúng ta nghiên cứu các ngôi sao lân cận và các hành tinh của chúng một cách cận cảnh. Khái niệm này đã được tích cực theo đuổi bởi một dự án được tài trợ bởi các tổ chức từ thiện có tên là Breakthrough Starshot . Chương trình này đã nghiên cứu các công nghệ then chốt cần thiết cho một chuyến du hành giữa các vì sao bằng cách sử dụng các tàu thăm dò nhỏ.

Cánh buồm ánh sáng được xem là một trong những hình thức đẩy phù hợp nhất cho nhiệm vụ này. Đúng như tên gọi, chúng là những màng mỏng phản chiếu ánh sáng.

Cánh buồm ánh sáng có thể đẩy tàu vũ trụ bằng năng lượng mặt trời.

Đối với du hành giữa các vì sao, năng lượng định hướng từ tia laser có thể được sử dụng để đẩy tàu vũ trụ tiến về phía trước. Photon, các gói năng lượng lượng tử cấu thành nên ánh sáng, vận chuyển cả động lượng lẫn năng lượng. Do đó, khi ánh sáng phản xạ từ gương, nó tạo ra áp lực lên gương.

Trong hầu hết các trường hợp, áp suất do ánh sáng gây ra là rất nhỏ, không thể cảm nhận được. Tuy nhiên, với một chùm ánh sáng đủ mạnh và một gương màng siêu nhẹ, áp suất ánh sáng có thể đóng vai trò như một phương tiện đẩy tàu vũ trụ.

Để tăng tốc cánh buồm ánh sáng lên tốc độ tương đối, cần một tia laser mạnh mẽ, với công suất hiệu dụng lên đến hàng chục gigawatt. Đây không phải là một thiết bị duy nhất. Thay vào đó, nó có thể bao gồm một mảng các thiết bị laser riêng biệt được đồng bộ hóa với nhau để tạo ra một chùm ánh sáng kết hợp.

Tăng tốc lên các vì sao

Việc đẩy một cánh buồm phản quang rộng vài mét bằng tia laser như vậy sẽ giúp cánh buồm đạt tốc độ hành trình chỉ trong vài phút.

Ưu điểm của hệ thống đẩy bằng chùm tia laser là cụm laser được để lại phía sau và chỉ một lượng tải trọng nhỏ được gia tốc lên các vì sao. Ngược lại, tên lửa thông thường phải tự mang theo nhiên liệu, điều này khiến chúng gặp bất lợi nghiêm trọng đối với các nhiệm vụ đòi hỏi năng lượng cực cao như vậy.

Nhược điểm của hệ thống đẩy bằng năng lượng chùm tia là tải trọng không thể dễ dàng dừng lại, do đó tàu thăm dò sẽ chỉ đi qua hệ sao mục tiêu trong vài ngày.

Các kỹ sư tại Trung tâm Nghiên cứu Langley của NASA đang kiểm tra một cánh buồm năng lượng mặt trời. Khi bung ra, cánh buồm có kích thước khoảng 30 feet (khoảng chín mét) ở một cạnh.

Mặc dù việc chế tạo những cánh buồm ánh sáng sử dụng tia laser công suất nhiều gigawatt có vẻ hơi viển vông ở thời điểm hiện tại do quy mô khổng lồ của dự án, nhưng những tiến bộ trong công nghệ thu nhỏ có thể mở đường cho các nút cảm biến thông minh siêu nhỏ trở thành những nhà du hành liênstellar đầu tiên của chúng ta.

Có lẽ chúng ta sẽ bắt đầu hành trình đến các vì sao với một trí tuệ nhân tạo (AI) ngủ yên trong nhiều thập kỷ, cho đến khi nó thức tỉnh và hoạt động điên cuồng trong vài ngày, khi những cỗ máy thay thế này lần đầu tiên được chiêm ngưỡng các thế giới xa lạ.

Ngoài việc sử dụng tia laser công suất gigawatt để đẩy cánh buồm ánh sáng, màng phản chiếu cũng có thể được đẩy bởi áp suất ánh sáng từ Mặt trời. Những "cánh buồm mặt trời" này có một lịch sử lâu đời và phong phú, lần đầu tiên được đề xuất vào những năm 1920 bởi Konstantin Tsiolkovsky và Friedrich Tsander, hai trong số những nhà tiên phong vĩ đại của ngành du hành vũ trụ Nga. Tsiolkovsky đã viết về việc sử dụng " những tấm gương khổng lồ làm từ những tấm rất mỏng ".

Công cụ để khám phá

Trong khi cánh buồm ánh sáng đẩy bằng laser là công nghệ của tương lai, thì cánh buồm năng lượng mặt trời lại là công nghệ của hiện tại. Một số cánh buồm năng lượng mặt trời nhỏ đã được phóng lên quỹ đạo Trái đất để trình diễn công nghệ. Việc mở rộng quy mô cánh buồm năng lượng mặt trời cho các sứ mệnh không gian sâu có thể cung cấp một bộ công cụ mới để khám phá hệ mặt trời của chúng ta.

Thứ nhất, vì cánh buồm năng lượng mặt trời không cần mang theo nhiên liệu, chúng có khả năng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi năng lượng cao và thời gian dài, một số nhiệm vụ gần như bất khả thi đối với tàu vũ trụ thông thường. Ví dụ, việc tiếp cận một sao chổi chu kỳ dài trên quỹ đạo hình elip hoặc có độ nghiêng lớn quanh Mặt trời đòi hỏi một lượng năng lượng đáng kể.

Hơn nữa, việc mang mẫu vật bề mặt từ một sao chổi như vậy về Trái đất càng trở nên khó khăn hơn. Với động cơ tên lửa thông thường, tàu vũ trụ cần mang theo nhiên liệu cho toàn bộ hành trình trở về sao chổi mục tiêu.

Đối với tàu vũ trụ sử dụng cánh buồm năng lượng mặt trời, việc quay trở lại Trái đất không khác nhiều so với việc tiếp cận sao chổi ban đầu. Cánh buồm năng lượng mặt trời có thể "chuyển hướng" bằng cách nghiêng cánh buồm để tăng tốc và xoay tròn ra xa Mặt trời, hoặc lật cánh buồm để giảm tốc và xoay tròn trở lại hướng Mặt trời.

Cánh buồm năng lượng mặt trời cũng có thể di chuyển theo các quỹ đạo phi truyền thống bằng cách sử dụng áp suất nhẹ để bù lại trọng lực. Ví dụ, điều này có thể cho phép một cánh buồm năng lượng mặt trời lơ lửng cố định ở độ cao phía trên các cực của Trái đất.

Cánh buồm năng lượng mặt trời và cánh buồm ánh sáng là những bước đệm từ hiện tại đến tương lai, từ việc khám phá hệ mặt trời của chính chúng ta đến việc khám phá những vì sao xa xôi. Có lẽ hành tinh ngoài hệ mặt trời LHS 1140b sẽ được một cánh buồm ánh sáng ghé thăm vào một thời điểm nào đó trong tương lai.

Nguồn: https://gizmodo.com/interstellar-travel-may-soon-be-within-reach-2000795897

u/AnotherPersonality8 — 10 days ago
▲ 41 r/NamQuoc+1 crossposts

Khi bạn mang tư duy doanh nhân đi chơi trò sinh tồn

Nếu bạn từng chơi Total war Rome 2, chắc hẳn bạn sẽ khá khó hiểu khi nhìn bản đồ và đọc sử. Tại sao Carthage lại có thể thua Rome?

Carthage thế kỷ III TCN không phải một thành phố thương mại hiền lành vô tình bị Rome bắt nạt và thâu tóm như các vương quốc – bộ lạc quanh bán đảo Ý. Đó là một cường quốc biển đã tranh giành Sicily với các thành bang Hy Lạp suốt nhiều thế hệ, xây dựng mạng lưới ảnh hưởng từ Bắc Phi sang Sardinia, Iberia và các đảo phía tây Địa Trung Hải. So với Rome, Carthage rộng lớn hơn, giàu có hơn, thậm chí có những vùng đất trù phú không kém gì bán đảo Ý.

Và họ còn có cả Hannibal Barca.

Câu trả lời nằm ở chỗ họ đánh nhau như những thương nhân.

Carthage không phải là một quốc gia của những chiến binh, họ là một nền cộng hòa của giới thương gia. Với người La Mã, chiến tranh là một lối sống, là nấc thang chính trị bắt buộc; bạn khó lòng thăng tiến nếu chưa từng khoác áo lính. Nhưng với giới tinh hoa Carthage, chiến tranh đơn thuần là rủi ro kinh doanh.

Khi cần đánh nhau, hệ thống của Carthage vận hành theo kiểu "thuê ngoài" (outsourcing). Họ mở cái kho bạc khổng lồ của mình ra và đi chợ: mua kỵ binh Numidia, lính ném đá Balearic, bộ binh đánh thuê Iberia. Tại sao công dân Carthage phải đổ máu trên chiến trường trong khi họ có thể ngồi ở nhà đếm tiền và trả lương cho kẻ khác làm việc đó? Cách làm này rất hiệu quả trong những cuộc xung đột quy mô nhỏ, nơi đối phương cũng chỉ là các thành bang Hy Lạp nhỏ lẻ và mọi thứ kết thúc bằng một bản hiệp ước.

Nhưng mọi thứ hoàn toàn đổ vỡ khi họ đụng độ La Mã.

La Mã không đánh nhau để tính lãi lỗ. Họ vận hành cỗ máy chiến tranh tổng lực. Khi Carthage thua trong cuộc Chiến tranh Punic lần thứ nhất và đánh mất hòn đảo Sicily trù phú, giới tài phiệt Carthage nhìn nhận thất bại này như một quý kinh doanh bết bát. Họ chép miệng, cắt lỗ, ký hiệp ước bồi thường chiến phí và quay lại với nghề bán thuốc nhuộm tím.

Thất bại ở Sicily khiến họ phải rút khỏi đảo và trả một khoản chiến phí lớn. Ngay sau đó, những binh sĩ chưa được thanh toán đầy đủ nổi loạn; nhiều cộng đồng Bắc Phi cũng tham gia. Cuộc chiến này, thường gọi là Mercenary War hay “Chiến tranh không đình chiến”, suýt nữa đánh sập Carthage từ bên trong. Hamilcar Barca — cha Hannibal — chính là một trong những người cứu được tình thế.

Trong lúc Carthage vừa bò ra khỏi cuộc nội chiến, Rome chiếm Sardinia và buộc họ nộp thêm 1.200 talent. Carthage lúc ấy quá kiệt quệ để lại đánh một cuộc chiến mới nên phải nhượng bộ. Và sự phẫn uất quanh vụ Sardinia là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới cuộc chiến tiếp theo. Dù vậy, phần lớn lãnh đạo Carthage vẫn nghĩ rằng chỉ cần ngoan ngoãn giao thương, La Mã sẽ giữ lời hòa bình.

Tuy nhiên, gia tộc Barca thì hiểu rõ kẻ thù của mình hơn, biết rằng La Mã sẽ không bao giờ dừng lại cho đến khi Carthage bị xoá sổ. Họ sang Iberia từ năm 237 TCN mở server riêng để chuẩn bị cho chiến tranh.

Hamilcar, rồi Hasdrubal và cuối cùng Hannibal đã biến miền nam và đông Iberia thành nguồn bạc, binh lính và quyền lực mới cho Carthage. Khi Hannibal dẫn quân vượt dãy Alps giáng những đòn kinh thiên động địa vào ngay trên đất Ý, phản ứng của giới chóp bu tại quê nhà Carthage là gì? Tần tiện đến mức mù quáng. Họ từ chối rót thêm viện trợ. Họ đổ lỗi cho nhà Barca tự ý gây sự. Thay vì dồn toàn lực tiếp tế để kết liễu một kẻ thù đang lảo đảo, họ chọn cách ôm khư khư túi tiền, hy vọng La Mã sẽ tự sụp đổ và hai bên lại có thể ngồi vào bàn đàm phán thương mại.

Sự keo kiệt của những tay buôn đã tước đi cơ hội chiến thắng duy nhất của chính họ. Bạn không thể dùng tư duy "hòa vốn" để đối phó với một kẻ thù sẵn sàng nướng hàng chục vạn thanh niên của chính nước họ vào lò lửa chỉ để giành chiến thắng cuối cùng. La Mã thua trận này, họ lập tức đẻ ra một đạo quân mới. Carthage hết tiền, lính đánh thuê của họ lập tức bỏ đi.

Đến khi Scipio Africanus của La Mã mang quân đổ bộ thẳng lên đất Bắc Phi, Carthage mới thực sự hoảng loạn. Lúc này, tiền không thể ngay lập tức biến thành một đội quân tinh nhuệ bảo vệ kinh thành. Theo các ghi chép cổ đại, trong cơn tuyệt vọng, người Carthage đã ném hàng loạt trẻ em vào lò lửa Tophet để hiến tế cho thần Baal. Dù ngày nay giới nghiên cứu vẫn còn tranh luận gay gắt xem đây là sự thật lịch sử hay chỉ là màn tuyên truyền bôi nhọ ác ý của người La Mã, điều đó vẫn phản ánh một thực tế bất lực: khi mối đe dọa chực chờ trước cổng, họ tìm kiếm phép màu thay vì chuẩn bị một cơ chế phòng thủ thực tế từ trước.

Thành phố Carthage bị san phẳng, người dân bị bán làm nô lệ, và đế chế vĩ đại ấy bị xóa sổ. Cuộc chơi quyền lực thời cổ đại không có chỗ cho những người đứng giữa chiến trường sinh tử mà lại đi đàm phán giảm giá. Sự sụp đổ của Carthage là một lời nhắc nhở, khi bạn sở hữu một khối tài sản khổng lồ nhưng lại từ chối tự mình cầm kiếm bảo vệ nó, thì sớm muộn gì cũng có kẻ đến lấy chúng.

Cre: Sử Đông Sử Tây

u/AnotherPersonality8 — 11 days ago

Tầng điện ly: Tấm khiên vô hình bao bọc hành tinh

Tầng điện ly không phải là một lớp vật chất rắn, mà là một vùng khí quyển bị ion hóa mạnh mẽ bởi bức xạ cực tím và tia X từ Mặt Trời. Tại đây, các nguyên tử bị tách rời thành các electron tự do và ion dương, tạo nên một môi trường plasma dẫn điện bao quanh Trái Đất ở độ cao từ 60 đến 1.000 km.

Lớp plasma này đóng vai trò như một tấm gương phản xạ sóng vô tuyến, cho phép tín hiệu liên lạc truyền đi xa hơn đường chân trời thay vì bay thẳng vào không gian. Tuy nhiên, khi Mặt Trời hoạt động mạnh, các cơn bão từ có thể làm nhiễu loạn tầng này, gây gián đoạn hệ thống định vị GPS và làm quá tải lưới điện mặt đất, tương tự như việc một dòng điện cực mạnh đột ngột xông vào làm cháy các thiết bị điện tử nhạy cảm trong nhà bạn.

Các vệ tinh như GRACE-FO đang liên tục đo đạc mật độ electron trong tầng điện ly để lập bản đồ biến động của nó. Thông qua việc phân tích sự chậm trễ của tín hiệu vệ tinh khi đi xuyên qua lớp plasma này, các nhà khoa học có thể tính toán chính xác độ dày của tầng điện ly, tương tự như cách chúng ta đo độ sâu của đại dương bằng cách thả sóng âm xuống đáy biển.

Tầng điện ly trải dài tới 1.000 km so với bề mặt Trái Đất, một khoảng cách đủ để xếp chồng 80 hành tinh có kích thước bằng Trái Đất lên nhau. Dù bao bọc lấy chúng ta mỗi ngày, nhưng mật độ hạt tại đây lại loãng đến mức ngay cả trong những vùng đậm đặc nhất, số lượng hạt vẫn ít hơn hàng tỷ lần so với không khí bạn đang hít thở, nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của lớp bảo vệ đang giữ cho nền văn minh công nghệ được vận hành ổn định.

Cre: Vũ Trụ Kì Thú

u/AnotherPersonality8 — 12 days ago

BỘ ĐỘI CHỈ CÒN LÀ NƯỚC SÔNG CÔNG LÍNH VÀ NẠN NHÂN CỦA BẠO LỰC NỘI BỘ

Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định nhiều gia đình khá giả vẫn muốn con em nhập ngũ để rèn kỷ luật. Lời nói ấy nhìn thẳng vào thực tế nghĩa vụ quân sự bắt buộc thời bình dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bức tranh lại khác xa hình ảnh đội quân mạnh, chính quy được tuyên truyền.

Ở nhiều đơn vị, lính nghĩa vụ không được đào tạo chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế, nơi binh sĩ được huấn luyện kỹ năng chiến đấu hiện đại, trang bị công nghệ và bảo vệ quyền lợi rõ ràng. Thay vào đó, họ thường trở thành nước sông công lính, là lực lượng lao động miễn phí cho cấp trên. Xây dựng doanh trại, trồng cây, làm đường, phục vụ công trình kinh tế quốc phòng… trở thành công việc thường ngày, trong khi huấn luyện chiến đấu thực chất bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Kết quả là một lực lượng đông nhưng thiếu chuyên nghiệp, khó đáp ứng yêu cầu quốc phòng hiện đại.

Nghiêm trọng hơn là tình trạng ức hiếp, bạo lực nội bộ. Vụ binh nhì Trần Đức Đô (2021) từng gây chấn động: gia đình tố bị đánh đập dẫn đến tử vong với nhiều vết thương, trong khi cơ quan điều tra quân đội kết luận tự treo cổ và không khởi tố. Dù kết luận chính thức phủ nhận hành hung, dư luận và một số cựu quân nhân vẫn đặt dấu hỏi về tính minh bạch và khả năng bao che. Các vụ khác cũng liên tục xuất hiện: Nguyễn Văn Thiên (Gia Lai, 2021) ban đầu được thông báo đột quỵ, sau đó cơ quan chức năng phải thừa nhận bị đồng đội đánh chết và kết án năm người; Nguyễn Văn Hào (Ba Vì, 2023) tử vong với gãy xương sườn, gia đình khẳng định bị hành hung; gần đây nhất là Nguyễn Văn Nghiệp (Bắc Giang, 2025), người từng gọi điện về tố bị chỉ huy đánh đập trước khi qua đời, trong khi đơn vị kết luận do bệnh.

Những cái chết bất thường, lời tố cáo bị ức hiếp rồi kết luận tự nhiên hoặc tự tử lặp lại nhiều lần khiến niềm tin bị bào mòn. Nghĩa vụ bắt buộc thời bình, nếu không đi kèm đào tạo chuyên nghiệp, bảo vệ quyền lợi và kiểm soát bạo lực nội bộ, dễ biến thành gánh nặng cho thanh niên và nguồn lao động rẻ mạt cho hệ thống, thay vì xây dựng một đội quân tinh nhuệ thực sự.

Cre: Chân Trời Mới Media

u/AnotherPersonality8 — 13 days ago

Edo Wazurai - Bệnh lạ chỉ uy hiếp tính mạng của quan chức quý tộc và nhà giàu Nhật Bản mà không lây cho người nghèo

Vào thời Edo (1603-1868), người dân truyền tai nhau về căn bệnh lạ của người giàu, một lời nguyền bệnh tật “ám” lên những ai sống trong nhung lụa.

1. Căn bệnh này được gọi là “Edo wazurai” hay "bệnh Edo", nhưng nó thực chất là gì?

“Edo wazurai” (江戸わずらい) có nghĩa là “bệnh Edo”, đây là tên gọi dân gian của bệnh tê phù hay bệnh Beriberi vào thời Edo (1603-1868), sinh ra do cơ thể thiếu hụt vitamin B1 nghiêm trọng.

Bệnh này bắt đầu phổ biến vào thời Edo và chủ yếu ảnh hưởng đến người giàu do thói quen ăn gạo trắng đã xay xát kỹ. Vì vậy mà Edo wazurai còn được gọi là căn bệnh của sự xa hoa.

2. Căn bệnh "chỉ có tại Edo"

Trong cuốn y thư Gyuzan Kattou (牛山活套) của danh y Katsuki Gyuzan có viết về một căn bệnh bí ẩn chỉ xuất hiện tại thành Edo - nơi đặt căn cứ của Mạc phủ Tokugawa, vào cuối thế kỷ 18.

Sách viết rằng: “Những viên quan lại và thương nhân giàu có đã mắc chứng bệnh lạ. Ban đầu khi mắc bệnh, họ thấy chân tay nặng nề, sưng phù, khó chịu và chán ăn, sau đó thì khó thở, tim yếu dần rồi suy kiệt mà ra đi. Người ta gọi bệnh này là Edo wazurai vì nó chỉ xuất hiện tại thành Edo. Nhưng có điều kỳ lạ là hễ ai đổ bệnh thì chỉ cần rời Edo, băng qua núi Hakone, bệnh tự nhiên lành lại.”

Đến những năm 1800, bệnh đã lan rộng khắp thành Edo. Trong cuốn sách Beriberi in Modern Japan: The Making of a National Disease (Bệnh tê phù ở Nhật Bản hiện đại: Sự hình thành một căn bệnh quốc gia), tác giả Alexander R. Bay đã mô tả nỗ lực của các thầy lang nhằm tìm ra nguyên nhân và cách chữa bệnh.

Thời đó, các thầy thuốc đã kê đơn thuốc thảo dược, đốt ngải cứu khô trên cơ thể bệnh nhân. Họ phỏng đoán nguyên nhân gây bệnh là do nước và đất của vùng Edo. Độ ẩm cao của vùng này khiến mầm bệnh phát triển còn nơi khác thì không, vì vậy bệnh nhân thường được chuyển về vùng quê để điều trị.

Tuy nhiên, điều kỳ lạ là ngay tại Edo, căn bệnh này cũng chỉ xuất hiện ở những người giàu có, khá giả còn người nghèo được loại trừ. Các thầy lang đau đầu tìm nguyên nhân, còn người dân thì đồn đoán rằng Edo wazurai chính là lời nguyền ám lên những kẻ giàu có.

3. Bùng phát thành dịch

Vào năm 1877, căn bệnh lạ Edo wazurai khiến Hoàng gia Nhật Bản lao đao. Chikako hay Công chúa Kazu đã qua đời ở tuổi 31 sau khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh này. Trước đó chồng bà là Tokugawa Iemochi (1846-1866) - vị shogun thứ 14 của Mạc phủ Tokugawa cũng mất với nguyên nhân được cho là tương tự.

Lời nguyền Edo wazurai càng khiến dân chúng khiếp sợ hơn khi đến thời Minh Trị Duy tân, không chỉ giới thượng lưu, quý tộc và thương nhân khá giả, bệnh đã lan rộng trong quân đội.

Vào năm 1883, 120 trong số 1.000 thủy thủ Nhật Bản mắc bệnh.

Đến năm 1904, trong Chiến tranh Nga-Nhật đã có 27.000 binh sĩ mất mạng vì bệnh. Đến lúc này nguyên nhân gây bệnh đã được phát hiện.

4. Gạo trắng - thứ xa xỉ phẩm gieo mầm bệnh

Từ xưa ở Nhật, gạo trắng là biểu tượng của địa vị xã hội, chỉ có những người giàu sang phú quý mới có thể sở hữu loại gạo trắng thơm ngon, còn người nghèo thì ăn gạo lứt hoặc các loại tinh bột khác như khoai lang và lúa mạch.

Gạo trắng thường được xay xát kỹ lưỡng, loại bỏ lớp cám bên ngoài và được vo kỹ, loại sạch bụi bẩn trước khi nấu. Thứ gạo trắng bóng, đẹp mắt mất nhiều công sức để tạo ra nên có giá thành rất đắt. Người Edo gọi cơm trắng mới nấu là “ginshari” – cơm bạc, coi đó là biểu tượng cho bữa ăn sang trọng.

Vào thời Minh Trị, loại gạo này được sử dụng trong quân ngũ để mang đến bữa ăn thịnh soạn cho binh lính. Với nhiều trai tráng nông thôn khi đó, sức hấp dẫn của việc nhập ngũ nằm ở chỗ họ được cấp khẩu phần 6 chén gạo trắng mỗi ngày, tương đương 15 chén cơm. Chế độ ăn của họ gồm nhiều cơm và rất ít món ăn kèm, như đa phần người Nhật khi đó.

Sự tăng trưởng kinh tế thời Minh Trị cũng khiến gạo trắng tinh chế trở nên dễ tiếp cận hơn đối với mọi tầng lớp xã hội, làm lan rộng căn bệnh Edo wazurai trên toàn quốc, khiến nó được coi là một căn bệnh đặc hữu của Nhật Bản.

Vào năm 1884, bác sĩ hải quân Takaki Kanehiro đã phát hiện ra rằng các sĩ quan cấp cao, những người ăn chế độ ăn đa dạng hơn bao gồm thịt và rau, hoặc những binh lính ăn theo chế độ gồm các sản phẩm từ sữa, thịt và bánh mì cũng không mắc bệnh. Ông nhận thấy khi chuyển chế độ chủ yếu ăn gạo trắng sang chế độ ăn đầy đủ hơn thì tình hình sức khỏe của những người mắc bệnh được cải thiện.

Sau này đến năm 1897, Christiaan Eijkman, một bác sĩ người Hà Lan làm việc tại Java, đã phát hiện ra rằng bệnh tê phù ở gà (có triệu chứng giống người) là do ăn gạo trắng và bệnh được chữa khỏi khi ăn gạo lứt cùng các thực phẩm giàu chất xơ.

Cuối cùng, căn bệnh lạ Edo wazurai lại có nguyên nhân từ chính cơm trắng. Người giàu chỉ ăn cơm trắng mà thiếu rau, thịt cùng các loại ngũ cốc khác khiến cơ thể thiếu vitamin B1 và dần suy kiệt. Còn người nghèo thường ăn gạo lứt trộn cùng với lúa mạch và các loại hạt khác nên ít khi nhiễm bệnh.

Cre: Xóm Văn Hóa

u/AnotherPersonality8 — 14 days ago

Ferdinand Magellan: Nhà thám hiểm vòng quanh thế giới đầu tiên — chết trên bãi biển Philippines

​

Ai cũng biết Magellan là người đầu tiên đi vòng quanh Trái Đất, nhưng sự thật là ông chưa bao giờ hoàn thành nó. Tháng 4 năm 1521, do một sai lầm chiến thuật ch*t người, Magellan cùng các thủy thủ bị phục kích bởi hơn 1.500 chiến binh bản địa. Trong bộ áo giáp sắt nặng nề găm đầy tên độc, vị thuyền trưởng vĩ đại đã ngã gục và trút hơi thở cuối cùng ngay trên bãi biển Mactan, Philippines. Chuyến đi của ông mãi mãi dừng lại ở một nửa chặng đường.

Trước khi trở thành huyền thoại, Ferdinand Magellan (sinh khoảng năm 1480) chỉ là một quý tộc nghèo người Bồ Đào Nha. Tuổi trẻ của ông gắn liền với những trận chiến đẫm máu ở Ấn Độ và Ma-rốc, thậm chí ông còn bị thương và thọt chân suốt đời.

Cống hiến hết mình là vậy, nhưng Magellan lại bị Vua Bồ Đào Nha ghét bỏ và từ chối tài trợ cho kế hoạch tìm con đường biển phía Tây. Quá bất mãn, ông đã làm một việc động trời thời bấy giờ: Từ bỏ quốc tịch, sang Tây Ban Nha đầu quân cho Vua Carlos I. Chính vì xuất thân là "kẻ phản quốc" trong mắt người Bồ, nhưng lại là "người ngoài" trong mắt người Tây Ban Nha, cuộc đời Magellan luôn tràn ngập những hoài nghi và thù hận.

Ngày 20 tháng 9 năm 1519, đoàn tàu gồm Trinidad, San Antonio, Concepción, Victoria và Santiago rời Tây Ban Nha. Họ vượt Đại Tây Dương, đi dọc bờ đông Nam Mỹ rồi trú đông tại Patagonia. Tại đây, các thuyền trưởng người Tây Ban Nha không chịu nghe lệnh một gã thọt người Bồ Đào Nha. Bằng sự lạnh lùng và mưu mẹo, Magellan đã thẳng tay trấn áp, c/h/ặ/t đầu kẻ cầm đầu và bắt các thủy thủ phản loạn phải quỳ gối thề trung thành trước cây thánh giá để đổi lấy mạng sống.

Vượt qua biến cố, hạm đội tiến vào vùng biển mà Magellan đặt tên là Thái Bình Dương. Nhưng sự "bình yên" ấy lại đi kèm với cơn ác mộng đói khát kéo dài 3 tháng 20 ngày. Lương thực cạn kiệt đến mức thủy thủ phải cạo cả mùn cưa, luộc những miếng da thuộc bọc trên boong tàu để nhai, và săn chuột với giá đắt đỏ để nuôi mạng.

Đến tháng 3 năm 1521, đoàn cuối cùng cũng tới Guam rồi tiếp tục đến Philippines.

Tại Philippines, Magellan tưởng như đã chạm tay vào vinh quang khi thuyết phục được thực vương bản địa Rajah Humabon cải đạo sang Công giáo và thề trung thành với vua Tây Ban Nha. Thế nhưng, sự tự tin thái quá vào sức mạnh của súng đạn phương Tây đã đẩy ông vào lòng đất mẹ.

Khi tộc trưởng vùng Mactan là Lapu-Lapu từ chối quy phục, Magellan đã ngạo nghễ dẫn theo vỏn vẹn vài chục binh sĩ đi chinh phạt một đội quân hơn 1.500 chiến binh bản địa. Do đá ngầm và san hô ngăn cản, các chiến thuyền không thể áp sát bờ, đại bác trên tàu hoàn toàn vô dụng. Lội nước ngập đến đùi tiến vào bãi biển, các thủy thủ trong bộ giáp sắt nặng nề trở thành những tấm bia sống cho mưa tên độc và giáo tre của bộ tộc Mactan. Vị thuyền trưởng vĩ đại bị đánh gục, ngã sấp xuống vùng nước nông và vĩnh viễn nằm lại trên bãi cát, thi thể của ông cũng không bao giờ được tìm thấy.

Cái ch*t của Magellan đẩy hạm đội vào tình thế rắn mất đầu và hoảng loạn tột độ. Để bảo toàn mạng sống và vận hành số người ít ỏi còn lại, họ buộc phải đốt bỏ tàu Concepción do không đủ thủy thủ. Hai con tàu còn lại tiếp tục lang thang trên biển và cuối cùng cũng tìm được Quần đảo Gia vị (Maluku) đúng như tâm nguyện của Magellan, chất đầy khoang những bao đinh hương vô giá.

Thế nhưng, chặng đường về nhà mới thực sự là một cuộc thanh lọc tàn nhẫn. Tàu Trinidad cố gắng quay về theo đường cũ qua Thái Bình Dương nhưng bị bão đánh nát và phần lớn thủy thủ bị người Bồ Đào Nha bắt giữ. Trọng trách lịch sử lúc này dồn cả lên vai nhà hàng hải người Tây Ban Nha Juan Sebastián Elcano cùng con tàu duy nhất còn lại: tàu Victoria.

Thay vì đi lùi, Elcano quyết định đánh cược mạng sống khi chọn giải pháp đi tiếp về phía Tây, xuyên qua Ấn Độ Dương rộng lớn vốn thuộc tầm kiểm soát gắt gao của kẻ thù Bồ Đào Nha. Họ phải vừa đi vừa trốn, chống chọi với bệnh hoại huyết và những cơn đói khát rình rập mỗi ngày.

Ngày 6 tháng 9 năm 1522, sau đúng 1080 ngày đêm lênh đênh trên biển cả, tàu Victoria rách nát, mục rỗng chính thức cập cảng Sanlúcar de Barrameda, Tây Ban Nha. Trong số 270 con người hào hùng xuất phát năm xưa, chỉ còn lại đúng 18 thủy thủ sống sót bước xuống bờ.

Họ gầy gò, hốc hác, bước đi không vững như những "bộ xương biết đi" bước ra từ cõi ch*t. Nhưng họ đã làm được một điều vô tiền khoáng hậu: hoàn thành trọn vẹn một vòng Trái Đất, chứng minh cho cả nhân loại thấy hành tinh này thực sự là một khối cầu, mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn bộ lịch sử thế giới...

Cre: Dấu ấn thời đại

u/AnotherPersonality8 — 16 days ago

Khoa học, Thuế khóa và Đại số: Thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo

Khoảng thế kỷ 8 đến thế kỷ 13, những chiến binh Ả Rập bất ngờ cất gươm giáo, tháo mũ sắt, khoác áo choàng lụa và ngồi xuống ngắm sao, dịch sách Aristotle, nhẩm tính đại số. Giống như một đế quốc đang hừng hực bành trướng bỗng nhiên thấy mệt, quyết định dừng thánh chiến để... đi học.

Tất nhiên đấy là cách nói trong sách cho trẻ thơ rồi. Nhưng cũng không sai lắm. Đế quốc Abbasid vừa bảo trợ toán học, y học và triết học, vừa đánh nhau với Byzantine, dẹp nổi loạn và thỉnh thoảng tự lao vào nội chiến. Nhưng giữa những rắc rối hầm bà lằng ấy, nghiên cứu học thuật vẫn diễn ra liên tục và luôn có một vị trí ở đằng trước.

Bởi vì đối với vương triều Abbasid tại Baghdad mới trỗi dậy lúc bấy giờ, khoa học là thứ vũ khí quan trọng nhất để giữ cho một đế quốc khổng lồ không tự sụp đổ dưới sức nặng của chính nó.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của một hoàng đế nhà Abbasid vào thế kỷ 9. Bạn vừa lật đổ triều đại trước, nắm trong tay một lãnh thổ trải dài từ Bắc Phi đến tận rìa Ấn Độ, ôm trọn những vùng đất từng thuộc về đế quốc La Mã và Ba Tư. Làm sao để cai trị một khối dân cư đa ngôn ngữ, đa tôn giáo khổng lồ như vậy? Bạn không thể cứ cưỡi ngựa đi thu thuế hay dùng kiếm chém những kẻ không chịu nộp lúa. Bạn cần bộ máy quan liêu. Rất nhiều quan liêu.

Đó là lúc Phong trào Dịch thuật trứ danh ra đời. Baghdad đổ núi vàng ra để mời các học giả dịch sách y học, triết học, toán học từ tiếng Hy Lạp, Ba Tư, và Phạn ngữ sang tiếng Ả Rập không phải vì họ đột nhiên yêu văn thơ ngoại quốc. Đế quốc lúc bấy giờ giống như một tập đoàn mafia vừa thực hiện một loạt thương vụ thâu tóm bạo lực và chuyển đổi sang kinh doanh trong sạch nghiêm túc, ban giám đốc khẩn thiết cần tìm hiểu xem hệ thống kế toán, tư pháp và y tế của những kẻ tiền nhiệm hoạt động ra sao. Họ dịch sách để học cách quản trị. Tiện thể ồ ạt tuyển dụng nhân viên biết chữ chứ không chỉ biết chém.

Những học giả trong Ngôi nhà Trí tuệ - Bayt al-Hikma - thực chất là những công chức cấp cao bậc nhất. Họ được trả lương bằng vàng để giữ cho hệ thống cai trị vận hành trơn tru: kỹ sư thiết kế kênh đào để tối ưu sản lượng nông nghiệp, bác sĩ để giữ cho quân đội khỏe mạnh, và các nhà toán học để đảm bảo dòng tiền thuế không bao giờ ngừng chảy về kinh đô.

Dịch thuật mới là bước đầu. Các học giả đọc, sửa, phản biện và phát triển những gì nhận được. Lấy toán học làm ví dụ. Nhà toán học vĩ đại Al-Khwarizmi không phát minh ra Đại số (Algebra) để làm khổ đời học sinh ngàn năm sau. Nhưng mục đích ban đầu của cuốn sách là một cẩm nang giải quyết các bài toán rất thực tế: làm sao để chia tài sản thừa kế theo đúng luật Hồi giáo (vốn cực kỳ phức tạp), đo đạc lại ruộng đất sau những trận lũ, và tính toán thuế khóa trên những vùng lãnh thổ rộng lớn. Đại số, vào thời điểm đó, chính là phần mềm kế toán của nhà nước.

Thiên văn học cũng vậy. Tại sao thế giới Hồi giáo lại xây dựng những đài thiên văn hoành tráng nhất thế giới trung cổ? Không chỉ để thỏa mãn trí tò mò. Tôn giáo của họ đòi hỏi người dân phải cầu nguyện năm lần mỗi ngày vào những thời điểm chính xác dựa trên vị trí mặt trời, và phải quay mặt về đúng hướng thánh địa Mecca (gọi là Qibla). Khi đế quốc của bạn trải dài hàng ngàn dặm, việc xác định chính xác hướng Mecca từ một tỉnh lẻ ở Trung Á hay Bắc Phi là một bài toán lượng giác cầu và hình học không gian cực kỳ phức tạp. Thiên văn học, do đó, vừa là hệ thống định vị GPS của đế quốc, vừa là công cụ duy trì tính chính danh tôn giáo.

Một điều kiện vật chất ít lãng mạn nhưng cực kỳ quan trọng là giấy. Kỹ thuật làm giấy đi từ Trung Quốc qua Trung Á và đến cuối thế kỷ 8 đã có mặt tại Baghdad. Giấy rẻ và thuận tiện hơn nhiều vật liệu viết cũ, khiến việc sao chép sách, lưu trữ văn bản và trao đổi tri thức mở rộng mạnh. Một nền văn minh tri thức không chỉ cần thiên tài; nó còn cần thứ để thiên tài viết lên, người đủ kiên nhẫn chép lại và khách hàng chịu bỏ tiền mua.

Vậy nên, không có chuyện những người Ả Rập thế kỷ 8-9 tạm gác lại việc bành trướng để làm khoa học. Khoa học chính là cách bành trướng mới của họ. Khi gươm giáo đã vẽ xong đường biên giới thô ráp trên bản đồ, thì giấy, mực và đại số mới là những thứ giúp họ thực sự cắm rễ và nuốt trọn những vùng đất ấy.

Thường thì, sức mạnh của một đế quốc không nằm ở độ sắc của lưỡi gươm, mà nằm ở tốc độ giải phương trình của viên quan thu thuế.

Tác giả: Sử Đông Sử Tây

u/AnotherPersonality8 — 17 days ago

Đại ma pháp sư Lưu Tú: vị hoàng đế thất bại trong việc trở thành… Người nổi tiếng

Trong giới làm sử, có một quy luật bất thành văn: vị vua nào càng nhiều "phốt" thì độ nhận diện càng cao. Người ta luôn nhớ đến Lưu Bang vì lối đánh lật bàn và thói lưu manh lúc bôn tẩu giang hồ. Người ta không thể quên Đường Thái Tông Lý Thế Dân vì màn huynh đệ tương tàn đẫm máu ở Huyền Vũ Môn, ép cha đẻ nhường ngôi. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương thì đi từ cái bát mẻ của gã ăn mày đến ngai vàng, rồi tự tay ký giấy chém đầu hàng trăm công thần.

Nhưng nếu có một bảng xếp hạng đánh giá chất lượng hoàng đế thì sao? Lưu Tú hẳn là sẽ được 6 sao (trên 5)

Nhìn vào vạch xuất phát, Lưu Tú diễn một kịch bản lội ngược dòng kinh điển. Dù mang tiếng là cháu đời thứ 9 của Lưu Bang, đến thời của ông, dòng máu hoàng gia đã loãng đến mức gia đình ông thực chất chỉ là những người nông dân cày ruộng, đọc sách. Khi thiên hạ đại loạn cuối thời Vương Mãng, ông theo anh trai khởi binh, nghèo đến mức không sắm nổi một con ngựa mà phải cưỡi trâu ra trận.

Kịch tính lẽ ra phải bùng nổ ở trận Côn Dương. Khi Vương Mãng phái 42 vạn đại quân bóp nghẹt tòa thành chỉ có hơn một vạn người phòng thủ, Lưu Tú đã đích thân dẫn 3.000 quân cảm tử lao thẳng vào đội hình địch. Chênh lệch gấp 40 lần, nhưng ông chém chết chủ soái quân địch và đánh tan hoàn toàn chủ lực nhà Tân. Đánh xong một trận huyền thoại như vậy, người bình thường sẽ bắt đầu ngông cuồng, đòi quyền lực. Lưu Tú thì không. Ông lẳng lặng thu dọn tàn cuộc, không kiêu ngạo cũng chẳng hống hách.

Khi anh trai Lưu Diễn bị Canh Thủy Đế Lưu Huyền giết vì nghi kỵ, Lưu Tú lập tức trở về nhận tội, không công khai để tang anh, vẫn ăn nói và sinh hoạt như thường. Sử sách còn đặc biệt ghi rằng ông không hề tự khoe công trận Côn Dương. Đây là khả năng nuốt đau đớn vào trong để sống sót — một phẩm chất rất đáng sợ ở người làm chính trị, nhưng lên màn ảnh thì không ồn ào bằng rút kiếm giữa triều đình.

Sau đó Lưu Tú được phái lên Hà Bắc. Tại đây, ông dần xây dựng lực lượng riêng, thu phục hào trưởng và tướng lĩnh, rồi xưng đế năm 25. Phải mất hơn một thập niên, ông mới lần lượt đánh bại các chính quyền cát cứ và hoàn tất việc thống nhất phần lớn lãnh thổ Trung Hoa. Nhà Hán được phục hồi, chuyển về Lạc Dương; sử gọi là Đông Hán.

Tiếp đến đoạn hậu chiến, Lưu Tú cho vẽ chân dung 28 công thần tại Vân Đài để tưởng niệm họ. Công thần được cấp đất đai, bổng lộc và an hưởng tuổi già. Quân và thần hồ nghi, không thanh trừng, mọi người vui vẻ ăn uống rồi ai về nhà lấy, hôm sau đi làm tiếp. Hết drama hậu chiến luôn.

Về đời tư, Lưu Tú cưới được người con gái mình theo đuổi từ thời niên thiếu, lúc còn chân đất là Âm Lệ Hoa. Dù sau này buộc phải tham gia vào một cuộc liên hôn chính trị với Quách Thánh Thông, ông vẫn xử lý êm thấm; dù có phế Hậu sau này, ông vẫn đối xử tử tế với gia tộc họ Quách, tuyệt đối không dồn ai vào cửa tử. Và cuối cùng vẫn chung thuỷ với một người vợ thanh mai trúc mã. Đáng lẽ đoạn này có thể triển khai kiểu tiểu thuyết tình ái mộng mơ, nhưng tất nhiên nó không hợp với vai của một vị hoàng đế cho lắm.

Về quản lý quốc gia, toàn bộ vương triều dưới tay Lưu Tú vận hành êm ái đến mức người ta quên mất rằng nó đang chạy. Ông chọn cách giảm thuế, cắt giảm biên chế quan lại dư thừa, hạn chế phát động chiến tranh, phục dịch cho sức dân nghỉ ngơi. Hệ quả là chỉ trong mười mấy năm ngắn ngủi, thiên hạ khôi phục sự ổn định, tạo ra thời kỳ "Quang Vũ Trung Hưng".

Đánh giá như thế nào về Lưu Tú? Ông thắng một trận lớn, biết cúi đầu đúng lúc, dựng lại một triều đại, không giết công thần, cưới crush từ nhỏ, rồi dành nhiều năm thu dọn hậu quả chiến tranh.

Lịch sử thường viết về những vị vua khiến thiên hạ kinh ngạc. Người sống trong lịch sử lại mong gặp một vị vua đừng bắt thiên hạ phải kinh ngạc quá nhiều.

Theo tiêu chuẩn ấy, sự “mờ nhạt” của Lưu Tú có lẽ không phải thất bại. Đó là lời khen khá sang trọng.

u/AnotherPersonality8 — 17 days ago

ROBOT CỨU HỘ HÌNH NHÂN MÃ

​

Công ty khởi nghiệp Satyress của California ra mắt robot cứu hộ thế hệ mới. Robot Threehalves, có chiều cao 2,1m, với thân trên giống người, thân dưới 4 chân, sở hữu đôi mắt phát sáng và cái đầu dê có sừng.

Theo quảng cáo từ phía công ty, robot có thể đảm nhận những nhiệm vụ cứu hộ cực kỳ nguy hiểm như chữa cháy rừng, tìm kiếm nạn nhân, xử lý khu vực ô nhiễm.

u/AnotherPersonality8 — 18 days ago

Trứng Bắc Thảo

https://preview.redd.it/yr0a6ohbl3hh1.png?width=800&format=png&auto=webp&s=da56ef46e10398535b30b9c1ad3a075da6a66620

Người Việt Nam thường quen gọi món trứng này là trứng bắc thảo. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều nơi trên thế giới, trứng bắc thảo lại được gọi bằng nhiều cái tên độc đáo khác: trứng trăm năm, trứng bách thảo, trứng bắc thảo, hay trứng nghìn năm, trứng thế kỷ, trứng thiên niên kỷ…

Nguồn gốc trứng bắc thảo

Món ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy không có tài liệu lịch sử ghi chép chính xác về sự ra đời của trứng bắc thảo, nhưng giới khoa học đã ước tính được món trứng đã tồn tại khoảng hơn 500 năm. Người đời truyền tai nhau câu chuyện về người phát hiện ra trứng bắc thảo. Tương truyền từ thời nhà Minh, một hôm đang đi đường và đói đến hoa mắt, người đàn ông vô tình nhìn thấy một quả trứng bị vùi dưới bùn, vỏ đã nhuốm màu đen của đất bùn. Khi bóc ra ăn thử thì ông vô cùng ngạc nhiên vì trứng có hương vị thơm ngon lạ thường, khác hẳn vẻ ngoài nhem nhuốc của nó. Sau này khi về nhà ông ta đã thử vùi trứng với nhiều nguyên vật liệu tương tự, cho bà con trong làng ăn thử rồi dần dần món trứng được lan truyền tới hoàng cung. Thậm chí đây còn trở thành món ăn ưa thích của tầng lớp quý tộc. Trước đây trứng thường được chế biến trong các dịp quan trọng như lễ tết, cúng bái, yến tiệc… nhưng hiện tại được ứng dụng phổ biến hơn.

https://preview.redd.it/s40skm6fl3hh1.png?width=800&format=png&auto=webp&s=aa4833c7f4da85f0f6c08b23a898aa3c33f0f544

Cách làm trứng bắc thảo

Trứng vịt thường được dùng để làm trứng bắc thảo, giúp cho lớp lòng trắng giòn dai hơn; tuy nhiên, trứng gà hay trứng cút đều có thể dùng thay thế. Kể từ khi được phát hiện cho đến nay công thức tạo ra trứng bắc thảo không thay đổi quá nhiều. “Hỗn hợp bí truyền” được nhắc đến thường bao gồm các nguyên liệu chính tro than đốt cháy, muối, vôi tôi, trấu một số nơi còn trộn cả trà đen hoặc bùn nhão… Dù có cái tên hoa mỹ “trứng trăm năm”, “trứng nghìn năm” nhưng trên thực tế chúng ta không cần phải đợi ngần ấy năm để được thưởng thức chúng. Thực tế chỉ cần từ 7-20 tuần, hoặc cùng lắm là đến vài năm để ủ trứng. Để càng lâu, một số quả còn xuất hiện các vân trắng như bông tuyết rất đẹp mắt.

https://preview.redd.it/cqfwo45hl3hh1.png?width=800&format=png&auto=webp&s=66f7fe3441b8653d7f5ace6bd9f21832a199e2db

"Viên ngọc đen" của nền ẩm thực

Trứng bắc thảo sau khi ủ đủ thời gian, bóc ra sẽ có phần lòng trắng có màu đen đẹp mắt, trong suốt và núng nính như thạch, lòng đỏ sẽ chuyển màu xanh xám và hơi dẻo dẻo, trông không khác gì một viên ngọc đen. Giá trị của “viên ngọc đen” này không chỉ nằm ở vẻ đẹp mà còn là hương vị ẩm thực của nó.

Thoạt đầu một số người sẽ thấy trứng có mùi hơi hăng nhẹ. Nhưng chỉ cần thử qua thì sẽ dễ bị hấp dẫn kỳ lạ của trứng bắc thảo - bên ngoài mềm mịn, một chút dai giòn như khi ăn thạch, bên trong bùi bùi, beo béo, xen lẫn một chút the mặn lạ miệng. 

Trứng bắc thảo có thể ăn ngay sau khi bóc vỏ hoặc được chế biến đa dạng để tăng thêm trải nghiệm khi ăn. 

Ở Quảng Đông, những lát gừng thái mỏng được bọc quanh trứng bắc thảo.

Ở Thượng Hải thì trứng bắc thảo được trộn với đậu hũ rồi băm nhỏ ra.

Người Đài Loan lại thái trứng bắc thảo thành từng lát rồi phủ lên trên là đậu phụ lạnh với nước xốt, dầu mè.

Về lại Việt Nam, trứng bắc thảo được ăn kèm cùng súp, cháo hoặc làm một số món lai rai trong các bữa nhậu

https://preview.redd.it/xupj12uil3hh1.png?width=800&format=png&auto=webp&s=5c3b5268b39e8493b06b97d50e8dd68170a2da8d

reddit.com
u/AnotherPersonality8 — 18 days ago

Đội quân Janissary

Trong lịch sử thế giới, có rất nhiều đội quân nổi tiếng với sự tàn bạo, nhưng điểm đặc biệt của đội quân Janissary không nằm ở sự tàn bạo, mà nằm ở chính logic tuyển mộ đã đi ngược lại trực giác của tất cả mọi người.

Những người lính của đội quân này là những đứa trẻ bị Đế chế cưỡng ép đưa đi từ các gia đình theo đạo Cơ đốc. Chúng bị thay đổi tôn giáo, bị cạo đầu, mặc quân phục thống nhất, và từ đó không bao giờ được phép lấy vợ, lập gia đình hay tạo dựng sản nghiệp. Chủ nhân duy nhất của chúng là Sultan.

Điều này nghe có vẻ như một lời miêu tả về những nạn nhân, nhưng thực tế là: trong những thế kỷ hùng mạnh nhất của Đế chế Ottoman, họ đã dựa vào chính đội quân này. Từ những đứa trẻ này đã sinh ra không ít những vị tể tướng, tổng đốc, tổng chỉ huy hải quân, và vô số anh hùng trên chiến trường.

Điều nghịch lý hơn nữa là khi Đế chế Ottoman cho phép đội quân này bình thường hóa – cho phép binh lính lấy vợ, cho con trai kế thừa nghiệp cha thì nó bắt đầu bước vào con đường suy tàn.

Cre: Phong Hỏa Hí Chư Hầu

u/AnotherPersonality8 — 19 days ago
▲ 16 r/traisucvat+1 crossposts

Vì sao Bộ Công An Trung Quốc không có ghế trong Thường vụ Bộ Chính Trị?

https://preview.redd.it/i7w98v2egvgh1.png?width=1580&format=png&auto=webp&s=d0b44e70a078d7413275653c7f30c6faa71085e4

Trong hệ thống chính trị Trung Quốc, việc người đứng đầu ngành an ninh không có mặt trong nhóm 7 người quyền lực nhất, tức Thường vụ Bộ Chính trị, không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đây là kết quả của một thiết kế thể chế có chủ đích, hình thành từ hệ thống tiêu chí tuyển chọn lãnh đạo và từ những bài học cay đắng trong lịch sử chính trị nội bộ của đảng.

1. Tiêu chí ngầm tuyển chọn Thường vụ Bộ Chính Trị

Để lọt vào nhóm 7 người lãnh đạo cao nhất, một quan chức Trung Quốc gần như bắt buộc phải chứng minh được năng lực quản lý toàn diện, thường thông qua việc từng làm Bí thư Tỉnh ủy của ít nhất 2 tỉnh hoặc thành phố lớn như Quảng Đông, Thượng Hải, Chiết Giang hay Giang Tô.

Yêu cầu này nhằm kiểm chứng khả năng điều hành kinh tế, ngân sách và xã hội trên quy mô hàng chục triệu dân. Hệ quả trực tiếp là những cán bộ đi lên thuần túy từ ngành công an, tình báo hay an ninh, tức nhóm chuyên gia lĩnh vực hẹp, gần như luôn bị loại khỏi danh sách vì thiếu kinh nghiệm quản trị vĩ mô.

Cấu trúc 7 ghế Thường vụ khóa gần đây nhất thường gắn với các trụ cột quốc gia gồm

- Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Thủ tướng phụ trách kinh tế,

- Chủ tịch Nhân đại phụ trách lập pháp,

- Chủ tịch Chính hiệp phụ trách mặt trận và dân vận,

- Bí thư Ban Bí thư phụ trách công tác đảng và nhân sự,

- Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương phụ trách chống tham nhũng,

- Và một Phó Thủ tướng thường trực phụ trách chính sách vĩ mô.

Không có ghế nào trong số này dành riêng cho ngành công an.

Sự phân công điều tra kỷ luật đảng được giao cho Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chứ không phải Bộ Công an, vốn chỉ xử lý vi phạm pháp luật ngoài xã hội hoặc thực thi bắt giữ khi hồ sơ đã được chuyển giao.

Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng không báo cáo trực tiếp lên Thường vụ mà phải qua một cơ quan trung gian là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, người đứng đầu ủy ban này thường chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị chứ không thuộc Thường vụ. Việc tạo ra nhiều tầng nấc giám sát như vậy khiến Bộ Công an chỉ đóng vai trò cơ quan thực thi lệnh, không có quyền tự quyết chính trị.

Việt Nam và Trung Quốc vận hành hai mô hình quản lý công an khác hẳn nhau.

Tại Việt Nam, sau các đợt tinh gọn bộ máy từ năm 2018, Bộ Công an vận hành theo mô hình ngành dọc xuyên suốt từ Trung ương đến cấp xã. Giám đốc Công an tỉnh do Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm và luân chuyển, thường là người từ địa phương khác đến, giúp vị trí này độc lập với chính quyền tỉnh về cả nhân sự lẫn chỉ đạo nghiệp vụ.

Một Bí thư Tỉnh ủy tại Việt Nam không thể đơn phương cách chức hay điều chuyển Giám đốc Công an tỉnh, và trong nhiều vụ án tham nhũng lớn tại địa phương, lực lượng công an vẫn có thể điều tra cả cán bộ thuộc Thường vụ Tỉnh ủy mà không cần báo trước cho lãnh đạo tỉnh đó.

Vị thế của Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam trong Bộ Chính trị vì vậy thường rất cao, và quyền lực thực tế của vị trí này thường vượt xa các bộ trưởng kinh tế hay dân sự khác. Việc đưa công an chính quy về cấp xã cũng là một bước đi cụ thể nhằm cắt đứt mối quan hệ phụ thuộc còn sót lại của công an cơ sở vào chính quyền địa phương.

Tại Trung Quốc, mô hình vận hành theo kiểu song trùng lãnh đạo, trong đó công an cấp tỉnh chịu sự quản lý và phụ thuộc tài chính lẫn nhân sự rất lớn từ Ủy ban Chính trị Pháp luật và Bí thư Tỉnh ủy địa phương, còn Bộ Công an Trung ương chỉ điều hành về mặt chuyên môn nghiệp vụ và người đứng đầu khối an ninh còn chịu thêm một tầng giám sát riêng từ Quân ủy Trung ương.

Một vụ việc nổi tiếng trong chính trường Trung Quốc từng cho thấy rõ điều này, khi một bí thư thành ủy cách chức giám đốc công an thành phố của mình mà không cần phê chuẩn từ Bắc Kinh, minh chứng cho việc quyền lực của Bí thư Tỉnh ủy đối với công an địa phương ở Trung Quốc mang tính trực tiếp và áp đặt, khác hẳn thực tế Việt Nam.

Mỗi mô hình cũng mang một nguy cơ hệ thống riêng. Ở Việt Nam, quyền lực tập trung cao vào một bộ dễ dẫn đến nguy cơ bộ này lấn lướt các khối hành chính khác. Ở Trung Quốc, nguy cơ lớn hơn lại nằm ở việc công an địa phương cấu kết với quan chức địa phương, tức tình trạng cát cứ.

2. Sự khác biệt giữa hai mô hình không đến từ ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ vài nhóm nguyên nhân.

Về địa chính trị, Trung Quốc có diện tích gần 9,6 triệu km2 với 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó một tỉnh như Tứ Xuyên hay Quảng Đông có dân số ngang bằng hoặc lớn hơn cả một quốc gia, khiến Bắc Kinh khó lòng quản lý trực tiếp công an đến từng địa phương và buộc phải trao bớt quyền cho chính quyền tỉnh.

Việt Nam với quy mô diện tích và dân số nhỏ hơn nhiều cho phép mô hình tập trung ngành dọc vận hành hiệu quả.

Về bài học lịch sử, một vụ án chính trị chấn động liên quan đến người từng đứng đầu ngành an ninh Trung Quốc khiến Bắc Kinh lo sợ việc hình thành một đế chế an ninh độc lập có thể đe dọa quyền lãnh đạo tập trung, nên chủ động phân tán quyền lực khối này.

Ngược lại, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ lại là tình trạng cát cứ địa phương và nguy cơ suy thoái ở cấp cán bộ tỉnh, nên Việt Nam chọn hướng ngược lại là tăng quyền cho công an như một công cụ thanh tra và kiểm tra độc lập với chính quyền địa phương.

Về thiết kế thể chế, Trung Quốc cài thêm lớp đệm là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữa Bộ Công an và Thường vụ, trong khi Việt Nam không có cơ quan đệm tương đương, để Bộ Công an báo cáo trực tiếp cho Bộ Chính trị và Tổng Bí thư.

Về văn hóa quản trị, Trung Quốc vận hành theo cơ chế cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các tỉnh, trao cho Bí thư Tỉnh ủy quyền sinh sát khá lớn kể cả với lực lượng công an địa phương để chủ động giữ ổn định và phát triển kinh tế tỉnh nhà, còn Việt Nam ưu tiên tính thống nhất từ Trung ương xuống địa phương nhằm tránh tình trạng chỉ đạo không được thực thi ở cấp dưới.

Song song với sự khác biệt về mô hình công an, xuất thân học vấn của giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc cũng trải qua 3 làn sóng dịch chuyển rõ rệt trong khoảng 40 năm qua.

Làn sóng đầu tiên, kéo dài từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000 dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, là giai đoạn các kỹ sư kỹ thuật chiếm ưu thế tuyệt đối trong Thường vụ, tiêu biểu như Giang Trạch Dân tốt nghiệp kỹ sư điện, Lý Bằng kỹ sư thủy điện, Hồ Cẩm Đào kỹ sư thủy lợi từ Đại học Thanh Hoa, và Ôn Gia Bảo học ngành địa chất.

Sự ưu tiên này phản ánh nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng và công nghiệp sau Cách mạng Văn hóa dưới chủ trương của Đặng Tiểu Bình.

Làn sóng thứ hai bắt đầu từ khoảng năm 2007, gắn với nửa đầu thời kỳ Tập Cận Bình, khi tỷ lệ kỹ sư trong Thường vụ sụt giảm mạnh, nhường chỗ cho những người có nền tảng luật, kinh tế và khoa học xã hội, như Tập Cận Bình có bằng kỹ thuật hóa học rồi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ luật và chính trị học, Lý Khắc Cường có bằng cử nhân luật và tiến sĩ kinh tế từ Đại học Bắc Kinh, còn Vương Hỗ Ninh là giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Phục Đán.

Sự dịch chuyển này phản ánh việc các thách thức quản trị chuyển từ xây dựng hạ tầng sang chính sách tiền tệ, thương mại quốc tế và cải cách pháp lý.

Làn sóng thứ ba đang diễn ra từ sau Đại hội 20, khi nhóm cán bộ xuất thân từ ngành hàng không vũ trụ và công nghệ cao dần nổi lên trong Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiêu biểu như Trương Khánh Vĩ, cựu lãnh đạo Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Vũ trụ Trung Quốc, và Viên Gia Quân, người từng chỉ huy các dự án tàu vũ trụ Thần Châu, cả hai sau đó đều từng làm Bí thư Tỉnh ủy.

Sự trỗi dậy của nhóm này gắn với ưu tiên tự chủ công nghệ của Trung Quốc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Mỹ.

Xuyên suốt cả 3 làn sóng, giới tinh hoa Trung Quốc gần như luôn tốt nghiệp các trường đại học hàng đầu như Thanh Hoa và Bắc Kinh, đồng thời đều trải qua các khóa đào tạo lý luận chính trị tại Trường Đảng Trung ương trước khi được thăng tiến.

Và dù chuyên môn nền tảng có thay đổi qua từng thời kỳ, một điểm gần như không đổi là những người có xuất thân thuần túy từ ngành công an hay tình báo vẫn hầu như không bao giờ lọt vào danh sách ứng viên cho Thường vụ Bộ Chính trị.

3. Ví dụ điển hình cho sự sụp đổ quyền lực an ninh

Trường hợp gần nhất ngành an ninh Trung Quốc có ghế trong Thường vụ Bộ Chính trị là Chu Vĩnh Khang, giữ chức Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 11 năm 2012, kế nhiệm La Cán, người đã mở đường đưa ghế này vào Thường vụ từ khóa trước đó, giai đoạn 2002 đến 2007.

Trước đó nữa, từ năm 1985 đến năm 1992, Kiều Thạch từng nắm một sự tập trung quyền lực còn đậm đặc hơn khi vừa đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương vừa là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị vừa kiêm luôn Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, tức nắm cả khối an ninh, khối kỷ luật đảng và ghế lãnh đạo cao nhất cùng lúc.

Điều này cho thấy nỗi lo về một đế chế an ninh độc lập trong đảng đã manh nha từ rất sớm, không chỉ bắt đầu với Chu Vĩnh Khang.

Sự xuất hiện của Chu Vĩnh Khang gắn với 3 yếu tố đặc thù của thời Hồ Cẩm Đào. Trước hết là mô hình lãnh đạo tập thể 9 ủy viên Thường vụ, mỗi người phụ trách độc lập một mảng, khiến ghế phụ trách duy trì ổn định nội địa được nâng cấp.

Kế đến, Chu Vĩnh Khang không xuất thân thuần túy từ ngành công an mà từng tốt nghiệp ngành thăm dò dầu khí tại Học viện Dầu khí Bắc Kinh, làm Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc, rồi làm Bí thư Tỉnh ủy Tứ Xuyên từ năm 2000 đến năm 2002, tức có kinh nghiệm quản lý địa phương và kinh tế bên cạnh xuất thân ngành dầu khí.

Sau khi vào Thường vụ, ông thâu tóm toàn bộ khối Bộ Công an, Bộ Quốc an, tòa án, viện kiểm sát và Cảnh sát Vũ trang, biến khối an ninh thành một cỗ máy khép kín.

Năm 2011, lần đầu tiên trong lịch sử, ngân sách an ninh nội địa của Trung Quốc vượt ngân sách quốc phòng chính thức, đạt khoảng 624 tỷ nhân dân tệ, tương đương hơn 100 tỷ USD.

Vì Chu Vĩnh Khang ngang hàng chính trị với Tổng Bí thư và Thủ tướng trong Thường vụ, nguyên tắc lãnh đạo tập thể khiến không cá nhân nào có quyền đơn phương can thiệp vào mảng an ninh của ông.

Ông còn bị cáo buộc dùng hạ tầng nghe lén của Bộ Công an để thu thập thông tin của các lãnh đạo khác và cấu kết với Bạc Hy Lai nhằm cản trở việc Tập Cận Bình kế nhiệm tại Đại hội 18 năm 2012.

Trước thời Tập Cận Bình, đảng có một thông lệ ngầm kéo dài nhiều thập kỷ là các cựu ủy viên Thường vụ khi đã nghỉ hưu sẽ được miễn trừ truy cứu hình sự để bảo đảm ổn định nội bộ.

Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu tháng 11 năm 2012, trở thành ủy viên Thường vụ đầu tiên bị điều tra hình sự kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, đồng thời là quan chức cấp cao nhất bị đưa ra xét xử kể từ phiên tòa xử nhóm Tứ nhân bang năm 1981.

Quá trình xử lý diễn ra theo kiểu bóc tách từng lớp. Chỉ 18 ngày sau khi Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu, một phó bí thư Tứ Xuyên thân cận với ông đã bị điều tra tham nhũng, mở đầu cho một loạt vụ bắt giữ nhắm vào mạng lưới của ông tại Tứ Xuyên và ngành dầu khí, trong đó có cựu Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc và một thứ trưởng Bộ Công an từng là cánh tay phải của ông trong ngành an ninh.

Con trai ông cùng nhiều doanh nhân thân tín cũng bị điều tra thu giữ tài sản. Theo Reuters, hơn 300 người thân, đồng minh chính trị và nhân viên của Chu Vĩnh Khang đã bị tạm giữ hoặc thẩm vấn trong quá trình điều tra, và nhà chức trách đã tịch thu tài sản trị giá ít nhất 90 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 14,5 tỷ USD, từ gia đình và cộng sự của ông.

Tháng 12 năm 2013, đảng chính thức mở cuộc điều tra nội bộ với Chu Vĩnh Khang, công khai vào tháng 7 năm 2014, rồi khai trừ đảng tịch và bắt giữ chính thức vào tháng 12 năm 2014.

Tòa án Nhân dân Trung cấp số 1 Thiên Tân tuyên án tù chung thân đối với ông vào ngày 11 tháng 6 năm 2015 với các tội danh nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực và cố ý làm lộ bí mật nhà nước.

Một câu hỏi logic đặt ra là nếu Chu Vĩnh Khang nắm toàn bộ công an và tình báo, ai đủ sức điều tra và bắt giữ ông?

Câu trả lời nằm ở 3 công cụ nằm ngoài tầm kiểm soát của ông.

- Thứ nhất là Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, cơ quan kỷ luật nội bộ đảng hoàn toàn độc lập với Bộ Công an, có thẩm quyền giam giữ và thẩm vấn đảng viên mà không cần qua thủ tục tố tụng thông thường.

Người đứng đầu cơ quan này khi đó là Vương Kỳ Sơn, đồng minh thân cận của Tập Cận Bình, trực tiếp chỉ đạo chiến dịch điều tra trong bí mật.

- Thứ hai là Cục Cảnh vệ Trung ương, lực lượng đặc nhiệm chịu trách nhiệm bảo vệ các lãnh đạo cao nhất, báo cáo trực tiếp cho Văn phòng Trung ương Đảng chứ không phải Bộ Công an, và chính lực lượng này đã thực thi việc khống chế khi có quyết định chính thức từ Trung ương.

- Thứ ba là Quân ủy Trung ương và Quân Giải phóng Nhân dân do Tập Cận Bình làm Chủ tịch, đóng vai trò răn đe để đề phòng lực lượng Cảnh sát Vũ trang khi đó vẫn còn do Bộ Công an quản lý.

Cỗ máy công an của Chu Vĩnh Khang vì vậy hoàn toàn bị vô hiệu hóa trước khi lệnh bắt chính thức được đưa ra.

Ngay tại Đại hội 18 tháng 11 năm 2012, Thường vụ Bộ Chính trị được thu hẹp từ 9 xuống còn 7 ủy viên, và suất dành cho người đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật không còn được đưa vào Thường vụ kể từ đó đến nay.

Cụ thể:

- Mạnh Kiến Trụ làm Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật giai đoạn 2012 đến 2017 sau khi từng là Bộ trưởng Công an giai đoạn 2007 đến 2012.

- Quách Thanh Côn làm Bộ trưởng Công an giai đoạn 2012 đến 2017 rồi chuyển sang làm Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật giai đoạn 2017 đến 2022.

- Triệu Khắc Chí làm Bộ trưởng Công an giai đoạn 2017 đến 2022.

- Vương Tiểu Hồng làm Bộ trưởng Công an từ năm 2022 đến nay.

Tất cả những người này đều chỉ dừng ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị hoặc Ủy viên Trung ương, không ai được đưa vào Thường vụ.

Cơ chế báo cáo cũng được siết chặt, buộc người đứng đầu khối an ninh phải định kỳ báo cáo trước Thường vụ và cá nhân Tổng Bí thư, tước bỏ hoàn toàn sự độc lập trước đây của ngành công an.

Đến Đại hội 20 vào tháng 10 năm 2022, người kế nhiệm Quách Thanh Côn đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật là Trần Văn Thanh, người trước đó phụ trách Bộ Quốc an, cũng chỉ dừng ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị chứ không được đưa vào Thường vụ, cho thấy quy tắc loại ghế an ninh khỏi nhóm 7 người quyền lực nhất tiếp tục được duy trì đến hiện tại.

Trong giai đoạn 2007 đến 2012, đảng đã ngầm chốt Tập Cận Bình là người kế nhiệm Tổng Bí thư tại Đại hội 18.

Bạc Hy Lai, khi đó là Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, từng kinh qua các vị trí Thị trưởng Đại Liên, Thống đốc tỉnh Liêu Ninh và Bộ trưởng Bộ Thương mại, sở hữu một hồ sơ lãnh đạo toàn diện gần như hoàn hảo theo tiêu chí tuyển chọn.

Ông phát động chiến dịch xướng hồng đả hắc tại Trùng Khánh để xây dựng uy tín dân túy, đồng thời công khai tạo sức ép nhằm tranh một suất trong Thường vụ.

Chu Vĩnh Khang khi đó đã ở tuổi phải nghỉ hưu và cần một người kế thừa để bảo vệ mạng lưới quyền lực cùng gia tộc mình sau khi rời chính trường, nên đã chọn ủng hộ Bạc Hy Lai bước vào khối an ninh và Ủy ban Chính trị Pháp luật, đổi lại Bạc Hy Lai sẽ là tấm lá chắn bảo vệ cho Chu Vĩnh Khang sau khi ông về hưu.

Vương Lập Quân, Giám đốc Công an kiêm Phó Thị trưởng Trùng Khánh, được Bạc Hy Lai đưa từ Liêu Ninh về làm ngọn cờ trong chiến dịch trấn áp tội phạm có tổ chức tại Trùng Khánh.

Khi quan hệ giữa hai người rạn nứt vì vụ án mạng của doanh nhân Anh Neil Heywood liên quan đến vợ Bạc Hy Lai là Cốc Khai Lai, Bạc Hy Lai đã cách chức Giám đốc Công an của Vương Lập Quân vào ngày 2 tháng 2 năm 2012 mà không cần phê chuẩn từ Bộ Công an Trung ương.

Ngày 6 tháng 2 năm 2012, Vương Lập Quân bất ngờ vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô xin tị nạn, ở lại hơn 24 giờ trước khi rời đi, và tiết lộ với phía Mỹ những chi tiết liên quan đến vụ án mạng cùng kế hoạch chính trị của Bạc Hy Lai.

Sự việc này khiến Bạc Hy Lai bị đình chỉ chức vụ vào tháng 3 năm 2012 và sau đó bị Tòa án Trung cấp Tế Nam tuyên án tù chung thân vào tháng 9 năm 2013.

Chu Vĩnh Khang là ủy viên Thường vụ duy nhất công khai bảo vệ Bạc Hy Lai vào thời điểm đó, trước khi chính ông cũng bị nhắm tới trong những tháng sau.

Sự khác biệt vai trò giữa hai người bắt nguồn từ 2 rào cản thể chế mà Chu Vĩnh Khang không thể vượt qua.

- Rào cản đầu tiên là tuổi tác. Theo thông lệ ngầm được công khai hóa như một chuẩn mực từ sau Đại hội 17 năm 2007, gọi nôm na là 67 tuổi ở lại 68 tuổi nghỉ hưu, Chu Vĩnh Khang sinh năm 1942 nên đến năm 2012 đã 70 tuổi, quá tuổi để tiếp tục giữ các vị trí lãnh đạo cao nhất theo thông lệ đó. Trong khi đó Bạc Hy Lai sinh năm 1949, mới 63 tuổi vào năm 2012, vẫn còn đủ độ tuổi để bước vào Thường vụ cho một nhiệm kỳ mới.

- Rào cản thứ hai là xuất thân chuyên môn. Chưa từng có tiền lệ một người đi lên thuần túy từ khối an ninh hay dầu khí bước thẳng lên vị trí Tổng Bí thư, trong khi Bạc Hy Lai lại có hồ sơ quản lý toàn diện qua nhiều vị trí thị trưởng, tỉnh trưởng và bộ trưởng, cùng bằng thạc sĩ báo chí tại Đại học Bắc Kinh, khả năng tiếng Anh tốt và xuất thân con của nguyên lão cách mạng Bạc Nhất Ba, tương đồng với chính Tập Cận Bình.

Vì vậy trong cuộc đối đầu này, Bạc Hy Lai là người trực tiếp thách thức Tập Cận Bình, còn Chu Vĩnh Khang chỉ có thể đóng vai trò hậu thuẫn từ phía sau bằng nguồn lực an ninh và tình báo.

Tác giả: Xóm văn hóa

reddit.com
u/AnotherPersonality8 — 19 days ago

Hai mô hình mở rộng lãnh thổ: Bạo chúa của Trung Quốc và liên bang của Hoa Kì

Không một triều đại nào trong lịch sử Trung Quốc để lại dấu ấn lớn hơn nhà Tần, dù triều đại thống nhất này chỉ tồn tại khoảng 15 năm, từ năm 221 đến năm 206 trước Công nguyên.

https://preview.redd.it/fpookxpxesgh1.png?width=2048&format=png&auto=webp&s=95d751436e3759f5d07b038278a7d0d23645a6c3

Tần Thủy Hoàng kết thúc thời kỳ Chiến Quốc đẫm máu kéo dài nhiều thế kỷ, quy giang sơn về một mối lần đầu tiên trong lịch sử. Ông thống nhất hệ thống đo lường, tiền tệ, chữ viết và luật pháp trên toàn lãnh thổ - một bước đi có tầm quan trọng sống còn, giúp văn hóa Trung Hoa không bị phân mảnh như châu Âu sau khi Đế chế La Mã sụp đổ.

Hệ thống đường Trì đạo kết nối toàn quốc và Vạn Lý Trường Thành được xây dựng trong thời kỳ này.

Nhưng cái giá là tương xứng với quy mô. Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử mà nhà Tần áp dụng coi người dân như tài nguyên sinh học phục vụ bang quốc.

Khi cần mở mang bờ cõi xuống Lĩnh Nam, Tần Thủy Hoàng điều động theo ước tính truyền thống khoảng 500.000 quân và phu dịch vào vùng rừng thiêng nước độc, dù các nguồn sử liệu gốc không thống nhất về con số chính xác này. Quân Tần không chỉ đối mặt với người Bách Việt mà còn với sốt rét, địa hình hiểm trở và bệnh dịch - hàng vạn người bỏ mạng. Song song đó, hàng triệu lao động bị huy động xây Vạn Lý Trường Thành, lăng mộ Ly Sơn và kênh Linh Cừ.

Sức dân bị vắt kiệt, lực lượng nông nghiệp bị phá hủy, kinh tế nội địa suy sụp. Kết cục là triều Tần thống nhất sụp đổ chỉ sau khoảng 15 năm.

Khi trung ương nhà Tần tan rã trong hỗn loạn, viên tướng Tần trấn giữ vùng Lĩnh Nam là Triệu Đà đã tận dụng tình thế đó để cát cứ và lập ra nước Nam Việt vào khoảng năm 204 trước Công nguyên.

Sự tàn bạo của Tần Thủy Hoàng đủ sức giúp nhà Tần trúng thầu các vùng đất trên danh nghĩa, nhưng không đủ sức giữ vững chúng về lâu dài.

Bản đồ Trung Quốc thực sự được định hình và củng cố là nhờ các triều đại sau - đặc biệt là nhà Hán - khi chính quyền áp dụng chính sách khoan thư sức dân và đồng hóa bằng văn hóa thay vì chỉ bằng lưỡi gươm.

  1. Chi phí cơ hội: Điều mà chế độ dân chủ không thể làm

Có một luận điểm sòng phẳng không thể bỏ qua: một chế độ dân chủ hiện đại không thể duy trì sự ủng hộ chính trị để điều động 500.000 người hành quân vào vùng chết theo kiểu Tần Thủy Hoàng đã làm.

Dân chủ vận hành dựa trên lá phiếu và lợi ích sát sườn của người dân trong thế hệ của họ. Không một chính phủ dân cử nào có thể bắt con em của cử tri đi chết cho một tầm nhìn "đại thống nhất" mà kết quả nằm ở vài trăm năm sau.

Thêm vào đó, trong bất kỳ xã hội dân chủ nào, thông tin không thể bị bóp nghẹt hoàn toàn theo kiểu đốt sách chôn nho của nhà Tần. Khi hàng vạn quan tài trở về từ chiến trường, áp lực từ gia đình các binh sĩ và từ truyền thông sẽ bóp nghẹt ý chí chiến tranh.

Nếu mục tiêu tối thượng là "bằng mọi giá phải chiếm được đất ngay lập tức, bất chấp xương máu thế hệ hiện tại", chế độ chuyên chế kiểu nhà Tần có lợi thế rõ rệt. Chế độ dân chủ khó có thể cạnh tranh trên địa hạt này.

  1. Tại sao người Trung Quốc hiện đại tôn sùng một bạo chúa?

Không phải ngẫu nhiên mà một người cai trị tàn bạo bậc nhất lịch sử lại được nhiều người Trung Quốc ngày nay tôn vinh như một biểu tượng dân tộc. Sự tôn sùng này không đến từ sự mù quáng mà dựa trên một phép tính thực tế về lợi ích kế thừa.

Thế hệ sống dưới thời nhà Tần đã phải chịu địa ngục trần gian - bị bắt lính, bắt phu, bị hành hình bằng những hình phạt tàn khốc nhất. Đối với người đương thời, Tần Thủy Hoàng là một con quỷ. Nhưng hơn 2.000 năm sau, người Trung Quốc ngày nay sinh ra đã nghiễm nhiên được thừa hưởng một quốc gia thống nhất với thị trường nội địa khổng lồ và một ngôn ngữ chung từ Nam chí Bắc.

Để hiểu hiện tượng này còn cần nhìn vào tâm lý chính trị sâu kín nhất của văn hóa Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Quốc, mỗi khi chính quyền trung ương suy yếu và đất nước chia cắt - như thời Tam Quốc, thời Ngũ Hồ loạn Hoa, hay giai đoạn bị các nước phương Tây xâu xé thế kỷ 19 - số người chết vì đói kém, dịch bệnh và chiến tranh phe phái còn khủng khiếp hơn nhiều so với thời một bạo chúa cai trị ổn định.

Từ bài học đó, một mạch tư duy chính trị phổ biến trong văn hóa Trung Hoa kết tinh quanh một trục phân biệt: lãnh đạo tàn bạo nhưng giữ được đất nước thống nhất và mạnh mẽ thì được coi là có công; lãnh đạo nhân từ nhưng để đất nước suy yếu và bị xâu xé thì là tội đồ lịch sử.

Trong mạch tư duy đó, Tần Thủy Hoàng trở thành biểu tượng của trật tự và thống nhất, và sự tàn bạo của ông phần nào được bọc lại bằng lớp vỏ của lòng tự tôn dân tộc. Những thế hệ người Trung Quốc sau này đang thừa hưởng một nền tảng quốc gia được xây dựng bằng cái giá rất lớn của tổ tiên, và phần lớn ý thức được điều đó.

  1. Hai mô hình, hai minh chứng

Nước Mỹ là ví dụ ngược lại: một quốc gia không cần bạo chúa thống nhất để giữ vững lãnh thổ khổng lồ và đạt được sức mạnh siêu cường.

Nhưng để đánh giá sòng phẳng, cần nhìn vào cơ chế thực tế mà Mỹ đã dùng để mở rộng lãnh thổ. - Mỹ mua lại vùng Louisiana từ Pháp năm 1803 với giá 15 triệu đôla, gần gấp đôi diện tích nước Mỹ lúc đó chỉ bằng một hợp đồng mua bán.

- Năm 1867, Alaska được mua lại từ Nga với giá 7,2 triệu đôla.

Người dân Mỹ đồng ý chi tiền cho những thương vụ này vì họ thấy có lợi ích kinh tế trực tiếp cho thế hệ của họ, chứ không phải bị bắt lính đi chết trên vùng đất xa lạ.

https://preview.redd.it/ktyyinl1fsgh1.png?width=2048&format=png&auto=webp&s=4dd00354b7ea31f54516fdb258695da7e897fe3f

Cũng cần ghi nhận một điểm khác biệt cốt lõi về điều kiện địa chính trị: Mỹ mở rộng lên các vùng đất có mật độ dân cư rất thưa thớt. Tần Thủy Hoàng, ngược lại, đối mặt với các quốc gia có nền văn minh, quân đội và bản sắc lâu đời như Sở, Triệu, Yên, Ngụy - ông buộc phải hủy diệt bằng vũ lực để khuất phục họ. Bài toán quân sự của nhà Tần về bản chất khó hơn Mỹ rất nhiều.

Mô hình liên bang của Mỹ giải quyết bài toán giữ đất bằng cơ chế chia sẻ lợi ích. Mỗi bang như California hay Texas tự bầu thống đốc, tự quyết định luật pháp, thuế suất và giáo dục của riêng mình. Chính phủ liên bang chỉ nắm ngoại giao, quốc phòng và tiền tệ. Người dân Texas ở lại trong nước Mỹ không phải vì sợ quân đội liên bang, mà vì lợi ích kinh tế, an ninh và vị thế toàn cầu.

Nhìn toàn cảnh một cách sòng phẳng, sự mở rộng lãnh thổ của Mỹ cũng không trong sáng hoàn toàn. Để lấy đất ở bờ Tây cho các bang dân chủ, chính phủ Mỹ đã tiến hành thanh trừng và dồn người bản địa vào các khu bảo tồn khắc nghiệt. Sự thịnh vượng kinh tế ban đầu của các bang miền Nam được xây dựng trên lưng hàng triệu nô lệ da đen bị coi như tài sản. Nước Mỹ thực thi dân chủ với công dân của họ, nhưng áp dụng các biện pháp tàn khốc với những đối tượng nằm ngoài hệ thống công dân đó.

Trung Quốc và Mỹ là hai đại diện của hai trường phái quản trị lớn nhất trong lịch sử nhân loại, và cả hai đều có bằng chứng thực tế để tự chứng minh mình đúng.

Đối với Trung Quốc, mô hình tập quyền không phải là một sự lựa chọn ngẫu nhiên mà là bài học xương máu rút ra từ lịch sử. Họ tin rằng một quốc gia 1,4 tỷ dân, đa sắc tộc và quy mô khổng lồ chỉ có thể vận hành ổn định khi có một trung tâm quyền lực cực kỳ mạnh mẽ. Chính sự tập quyền này đã giúp họ huy động toàn bộ nguồn lực quốc gia để xây dựng hàng vạn km đường sắt cao tốc, xóa đói giảm nghèo cho hàng trăm triệu người và đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Mỹ, ngược lại, được thành lập bởi những người chạy trốn khỏi sự chuyên chế của các vương triều châu Âu. Tư duy cốt lõi của họ là quyền lực tuyệt đối luôn dẫn đến tha hóa tuyệt đối. Họ tin rằng chính việc giới hạn quyền lực của chính phủ trung ương và bảo vệ quyền tự do cá nhân đã tạo ra một xã hội năng động thu hút những bộ óc thiên tài nhất thế giới, biến nước Mỹ thành trung tâm của nhiều cuộc cách mạng công nghệ.

Trung Quốc nhìn vào Mỹ và thấy một xã hội phân rã - xả súng hàng loạt, chính trị chia rẽ sâu sắc, hạ tầng già cỗi không thể đổi mới vì các bang tranh cãi nhau. Mỹ nhìn vào Trung Quốc và thấy một hệ thống siết chặt quyền tự do, chi phí an ninh nội địa khổng lồ và nguy cơ sụp đổ nếu người đứng đầu đưa ra quyết định sai lầm khi không có ai dám phản biện.

  1. Giới hạn của bạo quyền trong thế giới hiện đại

Di sản của Tần Thủy Hoàng là một khối tài sản cố định - đất đai, ngôn ngữ chung, ý thức hệ thống nhất. Người Trung Quốc hiện đại đã nhận xong phần tài sản đó.

Bài toán của Trung Quốc ngày nay đã chuyển sang chương hoàn toàn khác: không phải đi chiếm thêm đất - vì thế giới hiện đại không cho phép điều đó mà không kích hoạt chiến tranh hủy diệt - mà là quản trị hiệu quả khối tài sản khổng lồ đang có và giữ cho nó không bị phân rã.

Trung Quốc hiện tại là một quốc gia đa sắc tộc với những vùng lãnh thổ có xu hướng ly tâm mạnh mẽ. Nếu tiếp tục mô hình "bạo lực và giám sát" kiểu nhà Tần, chi phí an ninh nội địa sẽ ngày càng phình to và nuốt chửng ngân sách phát triển.

Lợi thế của chế độ độc tài - khả năng tập trung toàn bộ nguồn lực vào một mục tiêu duy nhất, bất chấp mọi lực cản - là lợi thế tối đa ở giai đoạn chinh phục và khai phá. Khi giai đoạn đó qua đi và bài toán chuyển sang quản trị, bảo vệ sự sáng tạo và duy trì tính hợp pháp trong mắt người dân, cấu trúc đó bắt đầu cho thấy những điểm yếu hệ thống của nó.

Điểm yếu cốt lõi nhất của mọi chế độ chuyên chế là phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của người nắm quyền tối cao. Tần Thủy Hoàng chết đi, Tần Nhị Thế phá nát cơ nghiệp trong ba năm. Đây không phải là trường hợp ngoại lệ mà là quy luật lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử Trung Hoa.

Câu hỏi mà lịch sử chưa có lời giải là liệu Trung Quốc có thể phá vỡ chu kỳ đó bằng một hình thức thể chế mới hay không, và nếu có thì hình thức đó sẽ trông như thế nào trong bối cảnh văn hóa và quy mô của họ.

Tác giả: Xóm Văn Hóa

reddit.com
u/AnotherPersonality8 — 19 days ago

NHỮNG GIỚI HẠN CỦA "TẠI SAO CÁC QUỐC GIA THẤT BẠI"

Cuốn "Tại sao các quốc gia thất bại" (Why Nations Fail) của Daron Acemoglu và James Robinson là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của kinh tế học thể chế trong hai thập niên qua. Luận điểm trung tâm của hai tác giả là thể chế kinh tế và chính trị, chứ không phải địa lý, khí hậu hay đặc điểm văn hóa, mới là nguyên nhân quyết định vì sao một số quốc gia giàu còn một số quốc gia nghèo. Để chứng minh, Acemoglu và Robinson dựa vào các "thí nghiệm tự nhiên", tức những trường hợp cùng một cộng đồng dân cư nhưng bị chia cắt bởi một đường biên giới thể chế. Thành phố Nogales bị chia đôi bởi biên giới Mỹ - Mexico là ví dụ tiêu biểu nhất: cùng một vùng đất, cùng một gốc gác dân cư, nhưng nửa thuộc bang Arizona có thu nhập bình quân cao hơn hẳn nửa thuộc Mexico. Bán đảo Triều Tiên là ví dụ thứ hai: trước năm 1945, người dân hai miền Nam Bắc có chung nguồn gốc dân tộc, chung nền văn hóa Nho giáo, nhưng sau vài thập niên bị chia tách bởi hai thể chế đối lập, khoảng cách thu nhập giữa hai miền đã giãn ra hàng chục lần. Từ đó, hai tác giả kết luận rằng khi giữ nguyên yếu tố con người mà chỉ thay đổi luật chơi thể chế, kết quả phát triển vẫn thay đổi triệt để, nên thể chế mới là biến số quyết định ở cấp độ vĩ mô.

_____________________________________________

RÀO CẢN CỦA CÁCH TIẾP CẬN THUẦN THỂ CHẾ TRONG HỌC THUẬT PHƯƠNG TÂY

"Tại sao các quốc gia thất bại" thực ra không lờ đi giả thuyết văn hóa mà dành hẳn một chương để trực tiếp bác bỏ nó, dùng chính trường hợp Triều Tiên làm ví dụ trung tâm: hai miền từng chung một nền văn hóa Nho giáo trước năm 1945 nhưng lại phát triển khác hẳn nhau sau khi bị chia tách bởi thể chế, nên theo hai tác giả, văn hóa không thể là biến số giải thích chính. Cách hai tác giả bác bỏ giả thuyết văn hóa, cũng như giả thuyết địa lý và giả thuyết thiếu hiểu biết của giới lãnh đạo, bằng cách chọn ra những cặp so sánh có lợi cho lập luận thể chế của mình, tự nó cũng phản ánh một xu hướng chung của khoa học xã hội phương Tây từ sau Thế chiến hai. Sau các phong trào dân quyền và sự sụp đổ của các học thuyết ưu sinh từng bị chủ nghĩa thực dân và phát xít lợi dụng, việc gán cho một cộng đồng hay quốc gia những đặc tính như lười biếng, kém kỷ luật hay yếu kém về văn hóa trở thành điều gần như cấm kỵ trong giới hàn lâm, vì nó dễ bị quy kết là phân biệt chủng tộc hoặc biện minh cho bất bình đẳng có sẵn. Bên cạnh đó còn có lý do thực dụng về mặt chính sách: nếu kết luận một quốc gia nghèo vì thể chế độc tài hay chiếm đoạt, nhà hoạch định chính sách có một hướng đi rõ ràng là cải cách thể chế, còn nếu kết luận nguyên nhân nằm ở văn hóa hay năng lực con người, sẽ không có công cụ chính sách nào can thiệp trực tiếp được. Hệ quả là phần lớn khoa học xã hội chính thống phương Tây trong vài thập niên qua nghiêng hẳn về việc giải thích bất bình đẳng bằng cấu trúc xã hội, coi con người ở mọi nơi về cơ bản là những đơn vị đồng nhất, còn khác biệt về kết quả hoàn toàn do hoàn cảnh khách quan áp đặt. Điều này không chỉ diễn ra ở cấp độ so sánh giữa các quốc gia mà cả ở cấp độ cá nhân: một người giàu hơn thường được mặc định là nhờ điều kiện gia đình, còn một người nghèo hơn được mặc định là do hoàn cảnh, trong khi khả năng người thứ nhất đơn giản là chăm chỉ và có năng lực hơn người thứ hai hiếm khi được đặt ra như một giả thuyết nghiêm túc. Chỉ cần nêu câu hỏi liệu một cá nhân có thể giàu hơn một cá nhân khác vì chăm chỉ hơn, người nêu câu hỏi đó cũng dễ bị quy kết ngay là đang phân biệt chủng tộc hoặc thiếu nhân văn, bất kể câu hỏi đó có nhắc đến chủng tộc hay không.

_____________________________________________

NHỮNG TRƯỜNG PHÁI PHẢN BIỆN CÁCH GIẢI THÍCH THUẦN THỂ CHẾ

Nhiều nhà kinh tế học và sử học từng lập luận theo hướng khác với cách tiếp cận thuần thể chế của Acemoglu và Robinson, dù phần lớn các tác phẩm của họ ra đời trước hoặc cùng thời điểm với "Tại sao các quốc gia thất bại" (xuất bản năm 2012) nên không phải là những phản biện trực tiếp nhắm vào cuốn sách này, mà là các dòng nghiên cứu độc lập về vai trò của văn hóa và vốn xã hội trong phát triển. Nhà kinh tế học Thomas Sowell, sử gia David Landes qua cuốn "The Wealth and Poverty of Nations" xuất bản năm 1998, hay nhà xã hội học Robert Putnam, lập luận rằng thể chế không tự sinh ra từ hư không mà chính con người và văn hóa của họ tạo nên thể chế. Theo trường phái này, một cộng đồng coi trọng việc học, tính tiết kiệm, kỷ luật lao động và niềm tin xã hội cao, như nhiều cộng đồng gốc Đông Á hay cộng đồng Do Thái, khi đặt vào bất kỳ thể chế nào cũng có xu hướng vươn lên nhanh hơn, còn nếu đem một thể chế tiên tiến kiểu Thụy Sĩ áp vào một xã hội thiếu niềm tin và coi thường luật pháp, thể chế đó cũng có nguy cơ biến chất thành tham nhũng.

Trường phái địa lý và sinh thái, với đại diện là nhà địa lý học Jared Diamond qua cuốn "Súng, vi trùng và thép" và nhà kinh tế học Jeffrey Sachs, phản bác rằng Acemoglu và Robinson đã gạt yếu tố địa lý ra khỏi phương trình một cách gượng ép. Theo họ, khí hậu nhiệt đới với dịch bệnh nặng nề, đất đai kém phong hóa và thiếu đường giao thương đường thủy tự nhiên tạo ra những cái bẫy nghèo đói mang tính cấu trúc tự nhiên, tồn tại độc lập với việc thể chế đó dân chủ hay độc tài.

Mô hình phát triển của Trung Quốc, Singapore hay Hàn Quốc dưới thời Park Chung-hee cũng thường được nêu ra như một thách thức với lý thuyết thuần thể chế. Trung Quốc vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong khi vẫn duy trì một thể chế chính trị tập quyền, thuộc loại mà chính Acemoglu và Robinson xếp vào nhóm "thể chế chiếm đoạt". Bản thân hai tác giả cũng dành riêng một chương để bàn về khả năng tăng trưởng dưới thể chế chiếm đoạt, thừa nhận rằng những mô hình huy động vốn và lao động tập trung kiểu Liên Xô thời Stalin hay Trung Quốc hiện nay có thể tạo ra tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng dự đoán kiểu tăng trưởng này khó bền vững về dài hạn vì thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo rộng rãi. Giới phê bình cho rằng dự đoán này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ trong thực tế, khi Trung Quốc đã duy trì tăng trưởng cao suốt nhiều thập niên, nên đây vẫn là một điểm còn để ngỏ hơn là một khiếm khuyết bị hai tác giả bỏ qua.

_____________________________________________

THOMAS SOWELL VÀ QUAN ĐIỂM VĂN HÓA, VỐN CON NGƯỜI

Thomas Sowell, nhà kinh tế học lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Chicago dưới sự hướng dẫn của George Stigler và thuộc trường phái kinh tế học Chicago, từng giảng dạy tại Cornell, Amherst và UCLA trước khi trở thành học giả cao cấp tại Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, là một trong những tiếng nói phản biện quyết liệt nhất đối với xu hướng giải thích bất bình đẳng thuần bằng cấu trúc xã hội. Trong cuốn "A Conflict of Visions" xuất bản năm 1987, Sowell chia tư duy chính trị xã hội thành hai nhóm đối lập. Nhóm thứ nhất, mà ông gọi là "tầm nhìn không bị ràng buộc", coi bản chất con người có thể nhào nặn được, nên mọi bất bình đẳng về kết quả đều là bất thường, là hệ quả của một xã hội vận hành sai lệch, bị áp bức hoặc phân biệt đối xử, và muốn sửa thì phải dùng nhà nước để tái cấu trúc xã hội. Nhóm thứ hai, mà ông gọi là "tầm nhìn bị ràng buộc" và tự nhận mình thuộc về, cho rằng con người có những giới hạn cố định về năng lực và thiên hướng, nên khác biệt về kết quả giữa các cá nhân và các nhóm là trạng thái tự nhiên của thế giới chứ không phải hiện tượng bất thường cần tìm thủ phạm để đổ lỗi.

Trong các tác phẩm như "Black Rednecks and White Liberals", "Race and Culture" hay "Discrimination and Disparities", Sowell định nghĩa văn hóa không phải là âm nhạc hay ẩm thực mà là tập hợp các kỹ năng, thói quen lao động, thái độ với giáo dục, tính tiết kiệm, kỷ luật và khả năng trì hoãn hưởng thụ. Ông cho rằng chính sự khác biệt về những yếu tố này, chứ không phải nạn phân biệt đối xử, mới giải thích được phần lớn chênh lệch thu nhập giữa các cộng đồng. Dẫn chứng ông thường nêu là cộng đồng người Do Thái và người Hoa: dù di cư đến đâu, châu Âu, Đông Nam Á hay Bắc Mỹ, họ đều từng gặp sự bài xích, kỳ thị và cả những rào cản pháp lý bất lợi, nhưng ở hầu hết những nơi họ định cư, họ vẫn vươn lên nhóm có thu nhập cao nhờ nền tảng văn hóa coi trọng học vấn, buôn bán và tiết kiệm. Một dẫn chứng khác trong "Ethnic America" là sự khác biệt giữa người da đen nhập cư từ vùng Caribbean và người da đen sinh ra tại Mỹ: theo số liệu ông trích dẫn, nhóm nhập cư Caribbean có thu nhập, trình độ học vấn và tỷ lệ sở hữu doanh nghiệp cao hơn đáng kể so với nhóm bản địa, dù họ cùng màu da và sống dưới cùng một hệ thống luật pháp, và Sowell quy sự khác biệt này về thái độ lao động và văn hóa ứng xử mà nhóm nhập cư mang theo. Theo Sowell, tiền bạc không phải của cải thực sự mà chỉ là thước đo năng lực tạo ra giá trị cho người khác, nên một cá nhân hay cộng đồng chấp nhận làm việc nhiều giờ hơn, đầu tư nhiều năm để học những kỹ năng khó, tự nhiên sẽ có thu nhập cao hơn nhóm chỉ muốn công việc nhẹ nhàng.

Ông cũng phản đối cách nhiều nhà xã hội học phương Tây quy toàn bộ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm sắc tộc cho nạn phân biệt đối xử mà bỏ qua sự khác biệt về độ tuổi trung bình, nơi cư trú hay số năm kinh nghiệm giữa các cộng đồng. Sowell dẫn ví dụ độ tuổi trung bình của người Mỹ gốc Nhật cao hơn khá nhiều so với người Mỹ gốc Latinh, nên nhóm gốc Nhật có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tích lũy hơn và thu nhập bình quân theo đó cũng cao hơn, một khoảng cách hoàn toàn có thể giải thích bằng cơ cấu tuổi tác chứ không cần viện đến giả thuyết áp bức có hệ thống.

_____________________________________________

PHÊ PHÁN CỦA SOWELL VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI VÀ DỊCH CHUYỂN TẦNG LỚP

Ngoài chính sách ưu đãi tuyển sinh, Sowell còn nhắm vào một huyền thoại khác của cánh tả học thuật, cho rằng giải pháp cho bất bình đẳng nằm ở tái phân phối và mở rộng phúc lợi xã hội. Ông lập luận rằng chính sự mở rộng mạnh mẽ của nhà nước phúc lợi Mỹ từ thập niên 1960, chứ không phải di sản của chế độ nô lệ, mới là nguyên nhân trực tiếp phá vỡ cấu trúc gia đình da đen. Theo số liệu ông trích dẫn, năm 1960, trước khi các chương trình phúc lợi thời kỳ "chiến tranh với nghèo đói" được mở rộng, khoảng 22% trẻ em da đen tại Mỹ sống chỉ với một phụ huynh, nhưng đến giữa thập niên 1980, tỷ lệ này đã tăng lên thành đa số trẻ em da đen. Sowell cho rằng các quy định trợ cấp phúc lợi từng gắn điều kiện hưởng trợ cấp với việc không có người cha trong gia đình đã vô tình khuyến khích sự tan vỡ gia đình, và ông đối chiếu điều này với thực tế tỷ lệ hộ gia đình da đen có đầy đủ cha mẹ từng ở mức cao trong nhiều thập niên trước đó, kể cả trong giai đoạn ngay sau khi chế độ nô lệ chấm dứt.

Về bất bình đẳng cá nhân, Sowell cũng phản đối cách giới xã hội học phương Tây dùng khung "kẻ thắng, người thua" để mô tả nền kinh tế như một trò chơi chia phần cố định. Ông dẫn các nghiên cứu theo dõi cùng một nhóm người qua nhiều năm cho thấy phần lớn những người nằm trong nhóm thu nhập thấp nhất khi còn trẻ đã dịch chuyển lên các nhóm thu nhập cao hơn khi họ lớn tuổi và tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng cùng thâm niên làm việc. Từ đó ông lập luận rằng việc coi người nghèo là một nhóm cố định bị kẹt lại suốt đời không phản ánh đúng thực tế dịch chuyển xã hội, mà chỉ phục vụ cho một cách đóng khung mang tính chính trị.

_____________________________________________

BẰNG CHỨNG CỦA SOWELL VỀ TÁC HẠI CỦA CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI SẮC TỘC

Trong hai cuốn "Affirmative Action Around the World: An Empirical Study" xuất bản năm 2004 và "Preferential Policies: An International Perspective" xuất bản năm 1990, Sowell dùng phương pháp so sánh thực chứng dựa trên dữ liệu của Mỹ, Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka và Nigeria để lập luận rằng các chính sách ưu đãi dựa trên chủng tộc hay nhóm sắc tộc thường không đạt được mục tiêu ban đầu và nhiều khi gây ra tác dụng ngược.

Bằng chứng thường được viện dẫn nhiều nhất là trường hợp Đại học California. Trước năm 1998, hệ thống UC áp dụng ưu tiên chủng tộc trong tuyển sinh, và tỷ lệ trúng tuyển của sinh viên da đen vào UC Berkeley có thời điểm lên tới hơn một nửa số hồ sơ nộp, cao hơn hẳn tỷ lệ trúng tuyển chung. Năm 1996, cử tri California thông qua Dự luật 209, cấm dùng chủng tộc làm tiêu chí tuyển sinh tại các trường công, và chính sách này có hiệu lực từ năm 1998. Ngay năm đầu tiên, tỷ lệ trúng tuyển và số sinh viên da đen được nhận vào Berkeley và UCLA giảm mạnh, có nguồn thống kê cho thấy mức giảm lên tới khoảng 40 đến 60% tùy theo cách tính. Điều những người ủng hộ giả thuyết "lệch tầng năng lực" của Sowell chú ý không phải là số lượng sụt giảm, mà là diễn biến sau đó: một bộ phận sinh viên da đen và gốc Latinh không vào được Berkeley hay UCLA đã chuyển sang các trường khác trong cùng hệ thống UC có mức độ cạnh tranh phù hợp hơn với năng lực đầu vào của họ, và trong khoảng một thập niên sau đó, tỷ lệ tốt nghiệp của sinh viên da đen tại chính Berkeley và UCLA tăng lên đáng kể so với trước năm 1998, số người tốt nghiệp thuộc các nhóm thiểu số trong toàn hệ thống UC cũng tăng, kể cả ở các ngành đòi hỏi khắt khe như khoa học và kỹ thuật. Sowell dùng dữ liệu này để lập luận rằng việc hạ tiêu chuẩn đưa một sinh viên vào ngôi trường vượt quá năng lực thực tế của họ không giúp họ giỏi lên mà đẩy họ vào nguy cơ bỏ học, còn nếu học đúng tầm, họ hoàn toàn có thể tốt nghiệp và thành công.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giả thuyết lệch tầng năng lực không phải là kết luận được toàn bộ giới nghiên cứu kinh tế học giáo dục hiện nay đồng thuận. Một nghiên cứu định lượng công phu hơn, dùng dữ liệu từng cá nhân sinh viên trong toàn hệ thống UC, do nhà kinh tế học Zachary Bleemer công bố năm 2020, đưa ra bức tranh phức tạp hơn nhiều so với những gì các số liệu tổng hợp cho thấy. Nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ tốt nghiệp chung của các nhóm thiểu số có tăng sau khi Dự luật 209 có hiệu lực, nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng việc mất ưu tiên chủng tộc khiến nhiều ứng viên thuộc nhóm thiểu số phải chuyển sang các trường đại học công và tư có chất lượng thấp hơn, làm giảm tỷ lệ họ tốt nghiệp ngành khoa học kỹ thuật và giảm khả năng học lên sau đại học, kéo theo mức thu nhập trung bình của nhóm ứng viên bị ảnh hưởng giảm khoảng 5% mỗi năm trong độ tuổi từ 24 đến 34 so với kịch bản còn ưu tiên chủng tộc. Nói cách khác, bằng chứng thống kê về trường hợp California hiện nay được cả hai phía dùng để bảo vệ lập luận của mình, và mức độ đúng đắn của giả thuyết lệch tầng năng lực vẫn là một câu hỏi thực nghiệm chưa khép lại trong giới kinh tế học giáo dục.

Một luận điểm khác của Sowell là chính sách ưu đãi lấy danh nghĩa giúp đỡ người nghèo hoặc nhóm bị áp bức, nhưng phần lớn lợi ích thực tế lại rơi vào tay những cá nhân đã thuộc tầng lớp khá giả trong chính nhóm được ưu đãi. Tại Mỹ, ông chỉ ra rằng nhiều sinh viên da đen trúng tuyển vào các trường thuộc nhóm Ivy League nhờ chính sách ưu đãi không phải là con em gia đình nghèo khó, mà thường là con em tầng lớp trung lưu, thượng lưu da đen hoặc con em người da đen nhập cư từ châu Phi và vùng Caribbean. Ở Ấn Độ, chính sách dành ngạch cho tầng lớp Dalit chủ yếu được hưởng bởi con em của những gia đình đã có vị thế xã hội, nhóm mà báo chí Ấn Độ gọi là "tầng lớp kem", trong khi phần đông người Dalit nghèo nhất không có đủ điều kiện học vấn tối thiểu để nộp đơn xin hưởng ưu đãi. Tại Malaysia, chính sách kinh tế mới từ thập niên 1970 ưu đãi người Mã Lai bản địa chủ yếu làm giàu cho giới tinh hoa chính trị và kinh doanh Mã Lai, trong khi phần lớn nông dân Mã Lai nghèo vẫn nghèo, đồng thời gây ra sự bất mãn kéo dài trong cộng đồng người Hoa và người Ấn tại nước này.

Sowell cũng cho rằng chính sách ưu đãi nhóm làm suy giảm động lực phấn đấu của cả hai phía. Đối với nhóm được ưu đãi, khi biết mình được nhận vào học hay được tuyển dụng một phần nhờ hạn ngạch chứ không hoàn toàn nhờ điểm số hay năng lực, động lực rèn luyện có xu hướng giảm. Đối với nhóm không được ưu đãi, những cá nhân xuất sắc dù cố gắng vẫn có thể bị gạt ra để nhường chỗ cho chỉ tiêu, dẫn tới sự bất mãn và xói mòn niềm tin vào tính công bằng của hệ thống.

Sowell mở rộng nghiên cứu sang nhiều quốc gia để chỉ ra rằng chính sách ưu đãi nhóm hiếm khi kết thúc êm đẹp mà nhiều khi làm trầm trọng thêm chia rẽ xã hội. Tại Sri Lanka, từ đầu thập niên 1970, chính quyền do người Sinhalese chiếm đa số áp đặt chính sách "chuẩn hóa" tuyển sinh đại học, yêu cầu học sinh người Tamil phải đạt điểm cao hơn học sinh Sinhalese mới được vào cùng một ngành học, nhằm điều chỉnh tỷ lệ sinh viên Tamil vốn có kết quả học tập cao hơn tại các ngành khoa học và y khoa. Chính sách này, cùng với đạo luật năm 1956 chỉ công nhận tiếng Sinhalese là ngôn ngữ chính thức, làm gia tăng sự phẫn uất của thanh niên Tamil và góp phần châm ngòi cho phong trào ly khai vũ trang. Nội chiến Sri Lanka bùng nổ năm 1983 và kéo dài đến năm 2009, khiến hơn 100.000 người thiệt mạng.

Tại Nigeria, sau khi giành độc lập, xung đột sắc tộc giữa các cộng đồng Hausa-Fulani, Yoruba và Igbo đã dẫn tới cuộc nội chiến Biafra kéo dài từ năm 1967 đến năm 1970, với số người chết ước tính từ vài trăm nghìn đến khoảng ba triệu người, phần lớn do nạn đói gây ra bởi lệnh phong tỏa của chính quyền liên bang. Sau chiến tranh, Nigeria áp dụng nguyên tắc "tính chất liên bang" trong hiến pháp, phân bổ vị trí trong bộ máy nhà nước theo hạn ngạch vùng miền và sắc tộc nhằm cân bằng quyền lực giữa các nhóm. Sowell dùng chính sách hạn ngạch hậu chiến này, chứ không phải bản thân cuộc nội chiến, làm ví dụ cho thấy việc phân bổ vị trí nhà nước theo sắc tộc thay vì năng lực có xu hướng làm giảm hiệu quả quản trị và duy trì thay vì hóa giải căng thẳng sắc tộc tại Nigeria.

Sowell cho rằng chính sách ưu đãi gây tổn hại tâm lý nặng nề nhất cho những người thuộc nhóm thiểu số thực sự có năng lực xuất sắc. Khi một chính sách quy định rằng một chủng tộc cần được ưu đãi mới vào được một vị trí nhất định, xã hội có xu hướng hoài nghi năng lực của tất cả những người thuộc chủng tộc đó đang ở vị trí ấy, kể cả những người đạt được vị trí đó hoàn toàn bằng thực lực. Theo Sowell, điều này vô tình tước đi niềm tự hào chính đáng về thành quả của chính những cá nhân mà chính sách ưu đãi tuyên bố là muốn giúp đỡ.

_____________________________________________

HAI CẤP ĐỘ CỦA CUỘC TRANH LUẬN

Nhìn tổng thể, cuộc tranh luận giữa Acemoglu, Robinson và những người phản biện như Sowell, Landes hay Diamond phản ánh hai cấp độ phân tích khác nhau của cùng một câu hỏi về nguồn gốc bất bình đẳng. Ở cấp độ quốc gia, thể chế được xem là yếu tố quyết định giới hạn trần phát triển mà một xã hội có thể vươn tới. Ở cấp độ cộng đồng và cá nhân, phái ủng hộ vai trò văn hóa và năng lực cho rằng chính thói quen lao động, kỷ luật và vốn con người mới quyết định một cộng đồng có chạm tới cái trần đó hay không, và sự khác biệt về kết quả giữa các cá nhân trong cùng một xã hội hoàn toàn có thể bắt nguồn từ khác biệt về nỗ lực và lựa chọn cá nhân chứ không nhất thiết phải là dấu hiệu của bất công hệ thống. Theo Sowell và những người cùng quan điểm, việc mặc định mọi chênh lệch kết quả giữa các cá nhân hay cộng đồng là bằng chứng của áp bức hoặc phân biệt đối xử, trong khi bỏ qua khả năng khác biệt đến từ nỗ lực, kỷ luật và lựa chọn thực sự của con người, chính là điểm mù đang chi phối phần lớn khoa học xã hội phương Tây hiện nay.

Tác giả: Bích Diệp

reddit.com
u/AnotherPersonality8 — 20 days ago